Mức lương tối thiểu vùng là căn cứ để tính lương theo hệ số

Chinhphu.vn - 

(Chinhphu.vn) - Ông Nguyễn Hoài Văn (nguyenhoai_van46@...) hỏi: Theo Nghị định 108/2010/NĐ-CP thì tổng lương của người lao động không được thấp hơn mức lương tối thiểu vùng hay mức lương này là hệ số 1 trong hệ thống thang bảng lương đang được áp dụng trong các doanh nghiệp nhà nước?

Ông Nguyễn Hoài Văn được phân công điều hành một công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu tại Hà Nội. Ông Văn được biết Nghị định số 108/2010/NĐ-CP ngày 29/10/2010 của Chính phủ quy định mức lương tối thiểu vùng đối với người lao động làm việc ở công ty, doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, trang trại, hộ gia đình, cá nhân và các tổ chức khác của Việt Nam có thuê mướn lao động, áp dụng từ ngày 1/1/2011. Theo đó, mức lương tối thiểu vùng áp dụng cho các doanh nghiệp tại Hà Nội là 1.350.000 đồng.

Ông Văn đề nghị được giải đáp một số thắc mắc: Theo quy định của Nghị định thì tổng lương của người lao động không thấp hơn mức lương tối thiểu vùng nêu trên hay mức lương này là hệ số 1 trong hệ thống thang bảng lương đang được áp dụng trong các doanh nghiệp nhà nước? Nếu doanh nghiệp của ông Văn không đủ lợi nhuận để trả lương cho cán bộ công nhân viên theo cách tính hệ số thì trả thấp hơn có bị coi là vi phạm luật không?

Vấn đề ông Nguyễn Hoài Văn hỏi, luật sư Trần Văn Toàn, Văn phòng Luật sư Khánh Hưng - Đoàn Luật sư Hà Nội trả lời như sau:

Được lựa chọn mức lương tối thiểu cao hơn so với mức lương tối thiểu vùng

Theo khoản 1, Điều 2; khoản 1, khoản 2 Điều 4 Nghị định 108/2010/NĐ-CP ngày 29/10/2010 của Chính phủ thì việc áp dụng mức lương tối thiểu vùng được quy định như sau:

- Mức lương tối thiểu vùng để trả công đối với người lao động làm công việc giản đơn nhất trong điều kiện lao động bình thường ở các doanh nghiệp được quy định theo vùng. Áp dụng mức lương tối thiểu vùng là 1.350.000 đồng/tháng đối với doanh nghiệp hoạt động trên địa bàn thuộc vùng I (bao gồm thành phố Hà Nội).

- Công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu hoạt động tổ chức quản lý và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp được lựa chọn mức lương tối thiểu cao hơn so với mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định tại Điều 2 Nghị định này để tính đơn giá tiền lương, quỹ tiền lương của thành viên chuyên trách Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty chuyên trách, Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó Giám đốc), Kế toán trưởng và Kiểm soát viên chuyên trách nhưng phải bảo đảm đủ các điều kiện theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 4 của Nghị định số 86/2007/NĐ-CP ngày 28/5/2007 của Chính phủ quy định quản lý lao động và tiền lương trong công ty TNHH nhà nước một thành viên do Nhà nước sở hữu 100% vốn điều lệ.

- Doanh nghiệp thành lập, tổ chức quản lý và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp (không bao gồm doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài) được áp dụng mức lương tối thiểu vùng quy định tại Điều 2 Nghị định này để tính các mức lương trong thang lương, bảng lương, các loại phụ cấp lương, tính các mức lương ghi trong hợp đồng lao động và thực hiện các chế độ khác do doanh nghiệp xây dựng và ban hành theo thẩm quyền do pháp luật lao động quy định.

Khoản 1, Điều 4 Thông tư 27/2010/TT-BLĐTBXH ngày 14/9/2010 của Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội hướng dẫn thực hiện quản lý lao động, tiền lương, thù lao và tiền thưởng trong công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu, hướng dẫn xếp lương, phụ cấp lương như sau: “Công ty tiếp tục áp dụng thang lương, bảng lương, phụ cấp lương ban hành kèm theo Nghị định số 205/2004/NĐ-CP ngày 14/12/2004 của Chính phủ quy định hệ thống thang lương, bảng lương và chế độ phụ cấp lương trong công ty nhà nước và các văn bản hướng dẫn thực hiện để xếp lương đối với người lao động cho đến khi Chính phủ có quy định mới”.

Theo đó, mức lương tối thiểu vùng được dùng làm cơ sở tính các mức lương theo hệ số lương cấp bậc trong thang lương, bảng lương, phụ cấp lương đang áp dụng tại Công ty TNHH một thành viên do Nhà nước làm chủ sở hữu.

Căn cứ quy định tại Điều 5 Thông tư 27/2010/TT-BLĐTBXH nêu trên thì Công ty được lựa chọn mức lương tối thiểu cao hơn so với mức lương tối thiểu vùng do Chính phủ quy định trong từng thời kỳ để tính đơn giá tiền lương, nhưng phải bảo đảm đủ các điều kiện: Nộp ngân sách nhà nước theo quy định của luật thuế và các văn bản hướng dẫn thực hiện; Mức tăng (theo tỷ lệ %) tiền lương bình quân phải thấp hơn mức tăng (theo tỷ lệ %) năng suất lao động bình quân. Phải có lợi nhuận và lợi nhuận kế hoạch không thấp hơn so với lợi nhuận thực hiện của năm trước liền kề, trừ một số trường hợp đặc biệt (Nhà nước có quyết định can thiệp để bình ổn thị trường; tăng khấu hao để thu hồi vốn nhanh; đổi mới công nghệ; mở rộng sản xuất kinh doanh; đầu tư mới).

Để đảm bảo quyền lợi người lao động hưởng lương, đảm bảo an sinh xã hội, phù hợp với tình hình kinh tế xã hội giai đoạn hiện nay, thì những quy định của pháp luật về tiền lương cần được doanh nghiệp thực hiện nghiêm túc. Doanh nghiệp cần nâng cao năng lực cạnh tranh, tiết kiệm chi phí, kinh doanh hiệu quả, có lợi nhuận để đảm bảo việc chi trả tiền lương theo quy định.

Luật sư Trần Văn Toàn

VPLS Khánh Hưng – Đoàn Luật sư Hà Nội

* Thông tin chuyên mục có giá trị tham khảo với người đọc, không dùng làm tài liệu trong tố tụng pháp luật.