Quê tôi nhà nhà trồng vải, ít thì vài chục gốc, nhiều thì cả trăm cây. Ngày trước người ta chỉ trồng vải ở vườn nhà, các con đường trong làng, còn hơn chục năm trở lại đây, khi giá trị kinh tế của cây vải ngày càng được nâng cao, nhiều hộ đã không trồng lúa hay các cây rau màu nữa mà vực đất lên cao để trồng vải ở ngoài đồng.
Nhà tôi có gần 40 cây vải, trong đó có hơn chục cây vải cổ. Nói là “cổ” vì tuổi của chúng cũng vào khoảng gần 100 năm. Những cây vải này luôn cho rất sai quả, lại mỏng vỏ, dày cùi và rất ngon ngọt.
Ngày ấy, ngay từ khi vải mới ra hoa, bọn trẻ chúng tôi đã mong ngóng, ước ao đến mùa vải chín. Khi đó, vừa được chơi, vừa được ăn vải thỏa thích, trong khi người lớn phải vất vả hái vải, mang vải đi chợ bán…
Có khi chúng tôi không thèm ăn vải đã hái sẵn mà tự leo lên ngồi chễm chệ trên một cành cao để tự hái lấy. Cứ quả nào chín đỏ, to là hái theo ý thích. Bố mẹ không tiếc, không cấm, chỉ răn chúng tôi không được leo cây kẻo ngã. Có lần, tôi đang học lớp 5, dịp nghỉ hè ở nhà, tôi đã bỏ em ở dưới một mình leo lên cây hái vải. Bố mẹ đi làm đồng về bắt gặp, đã đánh tôi một trận chí tử. Từ đó, tôi không dám trèo cây nữa.
Quả vải chín chúng tôi thường… chế biến thành những món ăn khá lạ như tách lấy cùi, cho vào cốc, bỏ đường, đá lạnh vào đánh đều lên rồi ăn hoặc tách cùi vải mang phơi nắng cho se lại, khi ăn có cảm giác dai và ngọt.
Lớn hơn đôi chút, mùa vải chín tôi cũng phải cật lực phụ giúp bố mẹ. Sáng sớm là phải leo cây hái vải để mẹ bó lại cho bố chở xe thồ ra quốc lộ bán cho thương lái. Bây giờ, người ta có thể bán luôn cả vườn theo kiểu ước lượng nhưng ngày trước nhà nào cũng phải tự trèo cây bẻ vải rất vất vả. Với mấy chục cây vải, bố mẹ tôi phải thuê thêm vài ba nhân công để phụ giúp thu hoạch. Ngoài tiền công phải trả theo ngày, khi về, những nhân công đều được bố mẹ tôi tặng cho một bọc to vải về làm quà.
Đã gần 10 năm tôi không còn sống ở làng, bên vườn vải ngát hương hoa và ngọt ngào mùa quả chín nữa nhưng ký ức tuổi thơ vẫn còn tươi mới.
Nguyễn Thùy Liên