>>Một số vấn đề của GD-ĐH ở Huế - Đà Nẵng
Hợp tác quốc tế
Đại học Huế đang hợp tác với 62 trường đại học thuộc 27 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới. Đang triển khai 69 dự án nghiên cứu với tổng kinh phí tài trợ trên 15 triệu USD và thực hiện liên kết đào tạo một số ngành và tiếp nhận nhiều học bổng cấp cho sinh viên. Đại học Đà Nẵng hợp tác với 53 đại học kỹ thuật thuộc 14 nước. Nội dung hợp tác bao gồm trao đổi sinh viên, trao đổi giáo viên, hợp tác nghiên cứu khoa học, đào tạo và trao đổi văn hóa, giao lưu kinh tế.
Trường Đại học dân lập Duy Tân sử dụng hợp tác quốc tế để đào tạo một số lĩnh vực thành thế mạnh của trường. Trường đã “mua trọn gói” một số giáo trình bao gồm bản quyền, đào tạo phương pháp giảng dạy, tập huấn và kiểm tra. Có thể khẳng định rằng hợp tác quốc tế đã bổ sung tri thức và nguồn lực cho các trường đại học. Tuy vậy, thực tế cho thấy cách tiếp cận hợp tác có khác nhau, với những ưu và nhược của mỗi cách và vì vậy, cần được điều chỉnh.
Một là hợp tác rộng, về đối tác cũng như về lĩnh vực, theo sự sẵn sàng của các đối tác. Nếu cách làm này chủ động hơn trong lựa chọn và đề xuất nội dung hợp tác có mục tiêu, hai bên cùng có lợi về khoa học và công nghệ, không chỉ thiên về tiếp nhận mà với tinh thần đối tác, thì sẽ kết hợp được vừa rộng, vừa có mục tiêu.
Hai là hợp tác có chủ đích với những đối tác được nhắm trước. Sau bước đi ban đầu, cần quan tâm hơn đến mở rộng phổ hợp tác, về đối tác, về địa bàn địa l ý cũng như về lĩnh vực, rất cần thiết để tiếp nhận tri thức và cho sự phát triển cân đối.
Trường Cao đẳng CNTT Hữu nghị Việt - Hàn là kết quả hợp tác ODA viện trợ không hoàn lại của Hàn Quốc. Lộ trình nhập thiết bị CNTT là hết sức quan trọng vì giá cả thiết bị sụt rất nhanh mà công năng thì lại mạnh lên rất nhiều chỉ trong vòng vài tháng. Thực tế khảo sát cho thấy nhiều thiết bị còn “trùm chăn”, các bộ máy tính cấu hình trung bình, sử dụng bộ vi xử lý Pentium IV, đã được giao với giá khá cao so với giá thị trường vào thời điểm nhận hàng!
Đội ngủ giảng viên cơ hữu của trường, với 25,6% có trình độ thạc sĩ, 74,4% có trình độ đại học cần được nhanh chóng tăng cường. để sớm là một trường Cao đẳng CNTT vững chắc trước khi nghĩ đến chuyển lên thành một trường đại học.
Về quản lý Nhà nước
Trên địa bàn Huế và Đà Nẵng có hai trường đại học dân lập, Đại học Dân lập Phú Xuân (Huế) và Đại học Dân lập Duy Tân (Đà Nẵng), trong số 19 trường đại học dân lập có tên trong Quyết định của Thủ tường Chính phủ số 122/2006/QĐ-TTg, ngày 29.05.2006, mà theo Điều 3 của Quyết định, việc chuyển đổi phải được hoàn thành trước ngày 30/6/2007. Cả hai trường đến nay vẫn chưa được Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép chuyển đổi.
Trường Đại học Dân lập Duy Tân được thành lập tháng 11/1994. Trong khoảng thời gian 15 năm qua, đã có 11 khóa tôt nghiệp và trường đã cung cấp cho xã hội hơn 11.000 cử nhân và kỹ sư. Tỉ lệ sinh viên tốt nghiệp tìm được việc làm đúng ngành nghề đào tạo sau môt năm là ≥ 73%.
Cơ sở vật chất kỹ thuật của trường đến năm học 2008-2009 tuyệt đại bộ phận đều là tài sản của trường do trường tự tạo. Tỉ lệ diện tích phòng học trên sinh viên chính quy là 5,78 m2.
Đội ngũ giảng viên cơ hữu của trường có 382 người, trong đó có 2 giáo sư, 11 phó giáo sư, với cơ cấu 7,3% tiến sĩ, 37,2% thạc sĩ, và 36,6% đại học. Trường cũng đã mời được nhiều giảng viên thỉnh giảng hiện nay chiếm khoảng 52% so với số giảng viên cơ hữu.
Quy mô đào tạo của trường không ngừng tăng và năm học 2008-2009 đạt gần 11.200 sinh viên. Hiện nay trường có 14 ngành đào tạo ở bậc đại học với 24 chuyên ngành, 4 ngành ở bậc cao đẳng và 5 ngành ở bậc trung cấp chuyên nghiệp. Năm học 2009-2010, trường bắt đầu tuyển sinh sau đại học trong hai lĩnh vực Khoa học máy tính và Quản trị kinh doanh.Trường đã đào tạo theo tín chỉ từ năm 2006, và nhờ đó đã đào tạo liên thông giữa các bậc cho học viên trong và ngoài trường, trong một số ngành.
Học phí, đầu tư cho một sinh viên và hợp tác quốc tế của trường đã được trình bày các phần ghi nhận trên đây.Tôi thật sự ngạc nhiên vì đến bây giờ trường Đại học Duy Tân vẫn chưa được Bộ Giáo dục và Đào tạo cho phép chuyển từ dân lập sang tư thục. Càng ngạc nhiên hơn khi đối chiếu với những trường đã được chuyển.
Vì sự đối xử công bằng và minh bạch, Bộ Giáo dục và Đào tạo giải trình rõ vấn đề này với Quốc hội.
+ Tại Đại học Huế cũng như tại Đại học Đà Nẵng, trong phần kiến nghị, hai trường đều có nhu cầu được đối xử như một đại học quốc gia mà cụ thể là được cấp kinh phí từ ngân sách nhà nước nhiều hơn và tài khoản của trường là tài khoản cấp một. Hiện nay, trong mối quan hệ với Bộ Giáo dục và Đào tạo, đại học vùng không khác gì với một trường đại học trực thuộc Bộ. Hai trường còn bày tỏ mong muốn sớm được công nhận là Đại học quốc gia.
Nhiều trường thành viên của hai trường Đại học vùng, không phủ nhận những mặt tích cực của mô hình đại học vùng, cho rằng trước khi có đại học vùng, trường trực thuộc Bộ, bây giờ thì thuộc Bộ thông qua đại học vùng với những điều tiết về kinh phí và ràng buộc về thủ tục trước đây không có, trong khi đó, hiện nay có nhiều trường đại học tư thục mới thành lập, quy mô khiêm tốn hơn, lại trực thuộc Bộ. Trong hợp tác quốc tế, bây giờ trường không được tự giới thiệu là University nữa mà chỉ là College hoặc Faculty thôi.
Cả cấp đại học vùng lẫn cấp đại học thành viên đều cảm thấy còn nhiều bất cập trong quản lý của Bộ đối với đại học vùng. Các trường thành viên chưa được thuyết phục về cán cân giữa lợi và bất cập của mô hình đại học vùng đang được triển khai.
Khá nhiều ý kiến của những người trong cuộc cho rằng Đại học quốc gia và Đại học vùng, khách quan mà nhìn nhận, gần như là sự quay lại mô hình Viện đại học trước năm 1975 nhưng lộn xộn hơn trong các mối quan hệ, được phân cấp ít hơn vì trong thực tế Bộ vẫn quản lý xuyên suốt thông qua các vụ chức năng đầy quyền lực.
Về phần mình, tôi luôn cho rằng quản lý giáo dục đại học không nên chỉ quan tâm đến mặt hành chính, đánh đồng đại học quốc gia, đại học vùng với cấp nào trong thang bậc của bộ máy hành chính để rồi áp lên chúng những thủ tục mà người dân thấy nhất thiết phải tinh giản. Điều phải làm là tạo điều kiện, nguồn lực trước tiên, mạnh dạn phân nhiệm, phân quyền cần thiết thay cho bao biện và cửa quyền để nền giáo dục đại học nước nhà có cơ may phát triển đúng hướng và lành mạnh.
GS.TSKH Nguyễn Ngọc Trân
*Hiện nay, Đại học Quốc gia được đánh đồng với với một cơ quan cấp Tổng Cục trực thuộc Chính phủ, con dấu có khắc quốc huy, được tài khoản cấp 1. Đại học vùng thì hãy còn nhiều lúng túng, và một hướng là đánh đồng với Tổng Cục trực thuộc Bộ.