Như đã biết, một phần lớn nội dung của tác phẩm tư bản phân tích kinh tế thị trường tự do cạnh tranh dựa trên cơ sở tư liệu thực tiễn của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa ở nước Anh thế kỷ XVIII và đầu thế kỷ thứ XIX.
V.I. Lenin cũng có nhiều tác phẩm vận dụng lý luận của C. Mác vào nghiên cứu kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa ở nước Nga, như “Bàn về cái gọi là vấn đề thị trường”, “Sự phát triển của chủ nghĩa tư bản ở Nga”, những tác phẩm bàn về chính sách kinh tế mới, v.v…
1 – Một số quan điểm cơ bản của C. Mác và V.I. Lenin về kinh tế thị trường tự do cạnh tranh.
1.1 – Kinh tế thị trường là kinh tế hàng hóa phát triển tới trình độ cao. So sánh kinh tế hàng hóa giản đơn với kinh tế thị trường C. Mác đã chỉ rõ kinh tế hàng hóa giản đơn là sản xuất nhỏ, phân tán vận động theo công thức H – T – H, vẫn chủ yếu hướng vào giá trị sử dụng, còn kinh tế thị trường là sản xuất lớn, tập trung, trình độ xã hội hóa cao, vận động theo công thức T – H – T’, nhằm vào giá trị thặng dư. Người còn so sánh người Phéc mi-ê cận đại xứ Hạ Xcôt-len với người tiểu nông kiểu cũ trên đại lục châu Âu. Người phéc mi-ê bán toàn bộ sản phẩm của mình và vì vậy phải hoàn lại trên thị trường tất cả các yếu tố sản xuất của anh ta, cho đến cả hạt giống nữa; còn người tiểu nông thì tiêu dùng trực tiếp đại bộ phận sản phẩm của mình. Anh ta mua và bán càng ít càng tốt, và trong chừng mực có thể, anh ta còn tự chế tạo lấy công cụ lao động, quần áo v.v…. Như vậy kinh tế tiểu nông đã có bán hàng hóa ra thị trường, đã là kinh tế hàng hóa, nhưng chưa phải kinh tế thị trường. Kinh tế của người Phéc mi-ê phải thông qua thị trường mua toàn bộ các yếu tố đầu vào, kể cả hạt giống, sức lao động… và bán toàn bộ các sản phẩm đầu ra. Bởi vậy, nếu xảy ra sự rối loạn trên thị trường khiến cho việc mua vào hay bán ra gặp trục trặc thì sẽ xảy ra khủng hoảng.
1.2 – Chỉ có sản phẩm của những lao động tư nhân độc lập và không phụ thuộc vào nhau mới đối diện với nhau như là hàng hóa. Nói theo cách hiện nay là các chủ thể thị trường phải được quyền tự chủ, tồn tại độc lập và bình đẳng với nhau.
Khi khẳng định phân công lao động xã hội là điều kiện tồn tại của sản xuất hàng hóa, C. Mác đồng thời nhấn mạnh rằng trong các công xã ở Ấn Độ hay trong các công xưởng hiện đại tuy lao động đã có sự phân công xã hội, nhưng các sản phẩm lao động trong nội bộ công xã hay công xưởng không trở thành hàng hóa, vì chỉ có sản phẩm của những lao động tư nhân độc lập và không phụ thuộc vào nhau mới đối diện với nhau như là hàng hóa.
Còn khi nói về trao đổi hàng hóa, C. Mác chỉ rõ: Muốn cho việc chuyển nhượng đó mang tính chất có đi có lại, thì người ta chỉ cần mặc nhiên coi nhau như là những kẻ sở hữu tư nhân đối với các vật có thể chuyển nhượng ấy, và do đó, là những con người độc lập đối với nhau.
Trước khi đổi mới ở nước ta, các sách giáo khoa Kinh tế Chính trị chịu ảnh hưởng của Liên Xô, đều hiểu những luận điểm trên có nghĩa là điều kiện thứ hai để tồn tại sản xuất hàng hóa là chế độ sở hữu tư nhân về tư liệu sản xuất. Hơn nữa, do chủ quan duy ý chí đã chủ trương xóa bỏ ngay chế độ tư hữu này, xác lập ngay chế độ công hữu dưới hai hình thức sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể một cách phổ biến, đi đến ngộ nhận rằng vì không còn chế độ tư hữu nên không còn sản xuất hàng hóa trong chủ nghĩa xã hội. Đó chính là nguyên nhân dẫn đến sai lầm đối lập kinh tế thị trường với chủ nghĩa xã hội.
Để hiểu chính xác những luận điểm trên đây cần phải làm rõ phạm trù “lao động tư nhân” và “những kẻ sở hữu tư nhân đối với các vật có thể chuyển nhượng”.
Một là, lao động tư nhân: Lao động sản xuất hàng hóa có tính chất hai mặt: lao động cụ thể và lao động trừu tượng. Lao động cụ thể sản xuất ra giá trị sử dụng của hàng hóa mang tính chất tư nhân, vì sản xuất cho ai, sản xuất cái gì và sản xuất như thế nào là do từng người sản xuất tự quyết định. Nhưng giá trị sử dụng của hàng hóa lại là giá trị sử dụng cho người khác, tức là giá trị sử dụng xã hội, muốn moi được tiền trong túi những người chủ tiền thì giá trị sử dụng phải đáp ứng nhu cầu và thị hiếu của họ, nên lao động tư nhân này phải là một khâu của lao động tổng thể, là một khâu của hệ thống phân công lao động xã hội tự phát. Mặt khác, mỗi loại lao động tư nhân, có ích và đặc thù này có thể trao đổi với bất kỳ loại lao động tư nhân, có ích và đặc thù nào khác, do đó, được coi là ngang với thứ lao động tư nhân ấy. Sự ngang giá ấy chỉ có thể thấy được khi ta quy các lao động tư nhân, cụ thể đó thành cái tính chất chung của chúng là sự tiêu phí sức lao động của con người, là lao động trừu tượng của con người. Bởi vậy, lao động trừu tượng mang tính chất xã hội.
Nhưng lao động tư nhân không đồng nhất với tư hữu. Lao động tư nhân, độc lập có thể là lao động cá thể, có thể là lao động tổng thể (một xí nghiệp hiệp tác, một công trường thủ công, một công xưởng, một liên hiệp xí nghiệp, kể cả những doanh nghiệp thuộc sở hữu Nhà nước…) mà chỉ sản phẩm của cả tập thể mới trở thành hàng hóa. Xét trong phạm vi cả xã hội thì lao động của mỗi người lao động cá thể hay mỗi người lao động tổng thể ấy trước hết biểu hiện ra là lao động tư nhân, sản phẩm được tạo ra trước hết thuộc quyền sở hữu của mỗi tư nhân đó (không kể các yếu tố đầu vào thuộc quyền sở hữu của họ hay họ đi vay, đi thuê) và chỉ thông qua trao đổi lao động tư nhân đó mới biểu hiện thành lao động xã hội, mới chứng tỏ lao động tư nhân đó được xã hội thừa nhận hay không.
Như vậy, không chỉ những cá nhân hay đơn vị sản xuất dựa trên chế độ sở hữu tư nhân mà cả những doanh nghiệp dựa trên chế độ sở hữu công cộng về tư liệu sản xuất, nếu tự chủ về kinh tế và độc lập, không phụ thuộc vào nhau thì sản phẩm của họ cũng phải đối diện với nhau như là hàng hóa.
Hai là “những kẻ sở hữu tư nhân đối với các vật có thể chuyển nhượng” ý nói là chủ sở hữu những hàng hóa đem trao đổi.
Chế độ sở hữu bao gồm các quyền cụ thể gắn với lợi ích kinh tế, trong đó có các quyền cơ bản là quyền sở hữu pháp lý, quyền chiếm hữu thực tế và quyền sử dụng. Trong sản xuất hàng hóa nhỏ, có thể những quyền nói trên thuộc về cùng một chủ thể (người tiểu nông, thợ thủ công hay người làm dịch vụ cá thể). Nhưng xu hướng chung là quyền chiếm hữu thực tế và quyền sử dụng ngày càng tách rời quyền sở hữu pháp lý. C. Mác đã chỉ ra rằng ở châu Á trước đây ruộng đất thuộc sở hữu của nhà nước, của vua chúa. Ở đây, nhà nước là kẻ sở hữu ruộng đất tối cao. Chủ quyền ở đây là quyền sở hữu ruộng đất, tập trung trên phạm vi cả nước. Nhưng, trong trường hợp đó lại không có quyền sở hữu tư nhân đối với ruộng đất mặc dù vẫn có quyền chiếm hữu ruộng đất và quyền sử dụng đất, quyền này hoặc là của tư nhân, hoặc là của cộng đồng.
V.I. Lênin đã nhiều lần chứng minh rằng nông nghiệp TBCN có thể phát triển trên cơ sở những hình thức chế độ sở hữu ruộng đất hết sức khác nhau.
Người nhắc lại luận điểm của C. Mác rằng, phương thức sản xuất TBCN đã gặp (và khống chế được) những chế độ sở hữu ruộng đất hết sức khác nhau: từ chế độ sở hữu thị tộc và chế độ sở hữu phong kiến đến chế độ sở hữu công xã nông dân, và xu hướng tách rời giữa quyền sở hữu pháp lý về ruộng đất với quyền chiếm hữu thực tế và quyền sử dụng ruộng đất. Đồng thời Người đã vạch rõ sản xuất lớn đòi hỏi việc chiếm hữu thực tế và sử dụng ruộng đất tập trung quy mô lớn, vì vậy ở tất cả các nước TBCN phát triển, toàn bộ ruộng đất đều do các doanh nghiệp tư nhân riêng rẽ chiếm giữ, nhưng các doanh nghiệp này không những kinh doanh ruộng đất của mình, mà còn kinh doanh ruộng đất thuê của các tư nhân chủ ruộng đất, của nhà nước hay của những công xã. Khi giả định rằng nông nghiệp tổ chức theo lối TBCN, tất nhiên cũng bao hàm cả cái ý giả định rằng tất cả ruộng đất đều bị các doanh nghiệp tư nhân riêng rẽ chiếm giữ, nhưng tuyệt nhiên không bao hàm cái ý giả định rằng toàn bộ ruộng đất là tài sản tư hữu của những nghiệp chủ đó hay của những người khác, hoặc giả định rằng đó là sở hữu tư nhân nói chung.
Về mặt Lôgich, chúng ta hoàn toàn có thể hình dung được nền nông nghiệp tổ chức theo lối thuần túy TBCN, trong đó hoàn toàn không có sở hữu tư nhân về ruộng đất, ruộng đất là sở hữu của nhà nước hay của công xã v.v… Nền sản xuất tư bản chủ nghĩa hoàn toàn có thể đi đôi với việc không có chế độ tư hữu về ruộng đất, với việc quốc hữu hóa ruộng đất, tức là khi mà hoàn toàn không có địa tô tuyệt đối, còn địa tô chênh lệch thì thuộc về nhà nước. Nhân tố kích thích sự tiến bộ về nông học không vì vậy mà bị yếu đi, trái lại còn được tăng cường lên rất nhiều.
Hơn nữa việc trao đổi hàng hóa lần đầu xuất hiện giữa các đơn vị kinh tế công hữu (các bộ lạc, các công xã nguyên thủy…) chứ không phải giữa các đơn vị kinh tế tư hữu. C. Mác đã nhận thấy: Sự trao đổi hàng hóa bắt đầu ở nơi mà công xã kết thúc, ở những điểm nó tiếp xúc với các công xã khác hay với những thành viên của các công xã khác đó.
Tóm lại, sản xuất hàng hóa có thể thích ứng với cả chế độ tư hữu và chế độ công hữu khi xét về quyền sở hữu pháp lý đối với tư liệu sản xuất; nhưng quyền chiếm hữu thực tế và quyền sử dụng tư liệu sản xuất thì phải thuộc về từng chủ thể độc lập và không phụ thuộc vào nhau, do đó kết quả sản xuất cũng thuộc quyền chi phối của họ, và người này chỉ có thể chiếm hữu hàng hóa của người kia bằng cách trao đổi hàng hóa của mình, với ý nghĩa đó họ phải thừa nhận lẫn nhau là những người sở hữu tư nhân đối với những hàng hóa mà họ đem ra trao đổi. Như vậy; xét về mặt sở hữu tư liệu sản xuất, quyền tự chủ của một chủ thể thị trường có thể biểu hiện ở cả ba quyền (quyền sở hữu pháp lý, quyền chiếm hữu thực tế và quyền sử dụng), nhưng cũng có thể chỉ biểu hiện ở hai quyền sau cùng.
1.3 – Trong kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa hầu như mọi của cải đều trở thành hàng hóa, nên tồn tại một hệ thống thị trường đa dạng. Ngoài các hàng hóa thông thường còn các hàng hóa vô hình (dịch vụ) và những hàng hóa đặc biệt, như hàng hóa – sức lao động; hàng hóa – tư bản (tư bản sinh lợi tức) v.v… Lại có cả những vật không có giá trị nhưng cũng có thể đem bán để lấy tiền, nên có giá cả và được coi là hàng hóa (ruộng đất, hầm mỏ…)
Dịch vụ (trong các ấn phẩm trước đây đều gọi là sự phục vụ) cũng có giá trị sử dụng và do những chi phí sản xuất của chúng, chúng cũng có giá trị trao đổi. Bên cạnh những hàng hóa thông thường còn tồn tại các dịch vụ, nên tổng số những vật phẩm tiêu dùng bao gồm cả những dịch vụ, và tổng giá trị hàng hóa cũng gồm giá trị của những hàng hóa dùng để nuôi dưỡng những dịch vụ ấy và giá trị của bản thân những dịch vụ ấy.
Đặc điểm chủ yếu của dịch vụ là “không được cố định lại hay không được vật thể hóa…”, “không để lại những kết quả có thể thấy được”, không “tồn tại tách rời khỏi những người thực hiện những dịch vụ đó”, nghĩa là hàng hóa vô hình. Việc sản xuất và tiêu dùng dịch vụ diễn ra đồng thời. Dịch vụ không chỉ bao gồm những sản phẩm phi vật chất. Có loại dịch vụ thuộc lĩnh vực sản xuất vật chất, như dịch vụ vận tải. Vận tải là ngành sản xuất vật chất thứ tư sau nông nghiệp, công nghiệp khai thác và công nghiệp chế biến. Ở đây đối tượng lao động, tức là hàng hóa, trải qua một sự thay đổi vật chất nhất định, theo ý nghĩa là thay đổi về không gian, bởi vì sự tồn tại trong không gian của giá trị sử dụng thay đổi. Nhưng khi hàng hóa đã đến nơi quy định thì sự thay đổi ấy liền biến mất và sự thay đổi ấy chỉ còn biểu hiện ra ở trong cái giá trị trao đổi đã tăng lên của hàng hóa. Như vậy, lao động trong ngành vận tải cũng thể hiện trong hàng hóa, mặc dù nó không để lại dấu vết rõ rệt nào trên giá trị sử dụng của hàng hóa, nghĩa là sản phẩm của ngành này cũng là hàng hóa vô hình, hay phi vật thể.
Các hàng hóa khác (như hàng hóa – sức lao động, hàng hóa – tư bản, ruộng đất, chứng khoán v.v…) được gọi là hàng hóa đặc biệt vì cách xác định giá trị sử dụng và giá trị (hay giá cả) của chúng khác với cách xác định hai thuộc tính của hàng hóa thông thường. Thí dụ: giá cả ruộng đất không phải là giá mua ruộng đất mà là giá mua địa tô do ruộng đất đem lại và được tính toán theo tỷ suất lợi tức hiện hành. Nếu tỷ suất lợi tức trung bình là 5% thì như thế một khoản địa tô hàng năm 200 bảng Anh có thể được coi như là lợi tức của một tư bản 4000 bảng. Chính cái địa tô đã được tư bản hóa như vậy cấu thành giá mua hoặc giá trị của ruộng đất. Đó là một phạm trù bất hợp lý vì đất không phải là sản phẩm của lao động và do đó không có giá trị.
Như vậy, cùng với thị trường hàng hóa và thị trường dịch vụ còn tồn tại những thị trường các hàng hóa đặc biệt, như thị trường lao động (Đáng lẽ phải gọi là thị trường hàng hóa – sức lao động, nhưng vì những nhà khoa học trước C. Mác đã quen dùng từ thị trường lao động (labour market) rồi, nên C. Mác vẫn dùng từ đó), thị trường vốn, thị trường tiền tệ, thị trường chứng khoán, thị trường bất động sản v.v…
1.4 – Sự biến động của giá cả thị trường – tín hiệu quan trọng nhất của cơ chế thị trường.
Giá cả là tên tiền tệ của giá trị hay là giá trị biểu hiện dưới hình thái tiền. Sự biến động của giá cả phụ thuộc vào những nhân tố sau đây:
1.4.1 – Giá trị thị trường. Khi xét một hàng hóa trong quá trình sản xuất trực tiếp thì đại lượng giá trị của hàng hóa được quyết định bởi khối lượng lao động xã hội cần thiết hay thời gian lao động xã hội cần thiết chứa đựng trong hàng hóa đó. Nhưng trong quá trình tái sản xuất xã hội thì: Giá trị của mọi hàng hóa – và do đó giá trị của những hàng hóa cấu thành tư bản cũng vậy, không phải là do thời gian lao động xã hội cần thiết chứa đựng trong bản thân hàng hóa đó quyết định, mà là do thời gian lao động xã hội cần thiết để tái sản xuất ra hàng hóa đó quyết định. Việc tái sản xuất đó có thể tiến hành trong những điều kiện thuận lợi hơn, hoặc khó khăn hơn, không giống như những điều kiện sản xuất ban đầu.
Có thể lấy ví dụ sau đây để minh họa: Giả dụ cuối năm 2008 sản xuất một máy vi tính tốn 1000 giờ lao động (kể cả lao động quá khứ và lao động sống) và bán 1000 USD. Đến đầu năm 2009, nhờ tiến bộ khoa học – công nghệ hay cải tiến quản lý nên để sản xuất một chiếc máy vi tính tương tự (thậm chí tốt hơn) chỉ hao phí hết 800 giờ lao động và bán với giá 800 USD, thì chiếc máy vi tính sản xuất cuối năm 2008, dù vẫn còn nguyên trong hộp, vẫn bị mất giá 200 USD (thậm chí mất giá nhiều hơn), tức là bị hao mòn tinh thần hay hao mòn vô hình. Tuy lượng lao động kết tinh vẫn là 1000 giờ nhưng bây giờ điều kiện tái sản xuất thuận lợi hơn, nên thời gian lao động xã hội cần thiết chỉ là 800 giờ. Hay là cuối năm 2008 sản xuất một tấn than hao phí 10 giờ, bán với giá 10 USD, nhưng đầu năm 2009 phải khai thác dưới hầm lò sâu hơn, nên tốn tới 12 giờ cho một tấn than, và bán với giá 12 USD, thì những tấn than được khai thác cuối năm 2008 còn đang dự trữ trong kho hay trên bãi, cũng sẽ được bán với giá 12 USD. Như vậy, lượng lao động kết tinh trong một tấn than đó chỉ là 10 giờ, nhưng lại được xã hội thừa nhận là 12 giờ, vì điều kiện tái sản xuất khó khăn hơn trước. Nhưng nền kinh tế thị trường dưới chủ nghĩa tư bản là một nền sản xuất lớn, sản xuất hàng loạt, nên phải xét thời gian lao động xã hội cần thiết không những của từng sản phẩm mà của cả khối lượng hàng hóa cùng loại hiện có trên thị trường. Dù mỗi hàng hóa cá biệt chỉ hao phí đúng thời gian lao động xã hội cần thiết, nhưng nếu khối lượng hàng hóa đó vượt mức nhu cầu xã hội thì một phần thời gian lao động xã hội đã bị tiêu phí vô ích, lúc đó trên thị trường toàn bộ khối lượng hàng hóa sẽ đại biểu cho một số lượng lao động xã hội thấp hơn lượng lao động thực sự chứa đựng trong hàng hóa đó. Vì vậy những hàng hóa ấy phải bán thấp hơn giá trị của chúng hoặc một bộ phận không thể bán được. Sẽ có tình hình ngược lại, khi lượng lao động xã hội dùng để sản xuất ra một loại hàng hóa nào đó lại nhỏ hơn so với nhu cầu xã hội mà sản phẩm đó phải thỏa mãn.
Trong hiện thực, tự do cạnh tranh trong nội bộ mỗi ngành dẫn đến hình thành giá trị thị trường. Khi nói giá cả thị trường phù hợp với giá trị thị trường chỉ có nghĩa là giá trị thị trường trở thành cái trung tâm mà giá cả thị trường hàng hóa xoay quanh.
Giá trị thị trường là kết quả của sự san bằng các giá trị cá biệt của hàng hóa trong cùng một ngành thông qua cạnh tranh. Tùy thuộc vào trình độ phát triển sức sản xuất của mỗi ngành mà giá trị xã hội trung bình (tức là giá trị thị trường) có thể ứng với một trong ba trường hợp sau đây:
Trường hợp 1. Đây là trường hợp phổ biến nhất. Đại bộ phận hàng hóa của ngành này được sản xuất ra trong điều kiện trung bình, một bộ phận nhỏ được sản xuất ra trong điều kiện kém hơn và một bộ phận nhỏ khác được sản xuất ra trong những điều kiện tốt hơn, hai bộ phận này bù trừ lẫn nhau, thì giá trị thị trường là do giá trị của hàng hóa được sản xuất ra trong những điều kiện trung bình quyết định.
Ngoài trường hợp phổ biến nói trên, trong những tình hình rất đặc biệt, giá trị thị trường có thể bị chi phối bởi những hàng hóa được sản xuất ra hoặc giả trong những điều kiện bất lợi nhất, hoặc giả trong những điều kiện thuận lợi nhất.
Trường hợp II. Giả định toàn bộ khối lượng hàng hóa ném ra thị trường vẫn như thế nhưng bộ phận hàng hóa được sản xuất ra trong điều kiện kém hơn lại lớn hơn bộ phận hàng hóa được sản xuất ra trong những điều kiện trung bình và bộ phận hàng hóa được sản xuất ra trong những điều kiện tốt hơn, thì giá trị thị trường là do khối lượng hàng hóa được sản xuất ra trong những điều kiện kém hơn điều tiết.
Trong trường hợp thứ II giá trị thị trường cao hơn giá trị cá biệt không những của những hàng hóa được sản xuất ra trong những điều kiện thuận lợi mà còn cao hơn cả giá trị cá biệt của các hàng hóa được sản xuất ra trong những điều kiện trung bình, nhưng vẫn thấp hơn giá trị cá biệt của những hàng hóa được sản xuất ra trong điều kiện bất lợi nhất. Nếu cầu chỉ hơn cung một ít thôi thì giá trị cá biệt của những hàng hóa được sản xuất ra trong những điều kiện bất lợi nhất sẽ điều tiết giá cả thị trường.
Trường hợp III. Bộ phận hàng hóa được sản xuất ra trong điều kiện tốt hơn điều kiện trung bình chiếm số lượng lớn hơn nhiều so với hai bộ phận kia, thì bộ phận hàng hóa được sản xuất ra trong những điều kiện tốt nhất ấy điều tiết giá cả thị trường.
Trong trường hợp thứ III giá trị thị trường thấp hơn giá trị của các hàng hóa thuộc nhóm giữa và nhóm cuối. Nếu cầu nhỏ hơn cung thì bộ phận hàng hóa được sản xuất ra trong những điều kiện thuận lợi nhất, không kể khối lượng của nó to nhỏ như thế nào, sẽ chiếm vị trí quyết định bằng cách làm cho giá cả của nó hạ xuống ngang với giá trị cá biệt của nó. Giá trị thị trường không bao giờ có thể nhất trí với giá trị cá biệt đó của những hàng hóa được sản xuất ra trong những điều kiện thuận lợi nhất, trừ phi số cung vượt số cầu rất nhiều.
Trong ba trường hợp trên, đều giả định cung bằng cầu, và hàng hóa bán theo giá trị thị trường của nó, dù giá trị đó là do trường hợp nào trong ba trường hợp ấy điều tiết. Nhưng cung bằng cầu trong điều kiện kinh tế thị trường là hiện tượng ngẫu nhiên. Khi cung lớn hơn cầu thì bao giờ giá trị của hàng hóa được sản xuất ra trong điều kiện tốt nhất cũng điều tiết giá trị thị trường, còn khi cung nhỏ hơn cầu thì giá trị thị trường lại do giá trị cá biệt của hàng hóa được sản xuất ra trong điều kiện xấu nhất quyết định.
1.4.2 – Giá trị (hay sức mua) của tiền: Giá cả thị trường tỷ lệ thuận với giá trị thị trường của hàng hóa và tỷ lệ nghịch với giá trị (hay sức mua) của tiền. Bởi vậy, ngay cả khi giá trị thị trường của hàng hóa không đổi thì giá cả hàng hóa vẫn có thể biến đổi do giá trị (hay sức mua) của tiền tăng lên hoặc giảm xuống. Sự chênh lệch giữa giá cả thị trường và giá trị thị trường là hiện tượng đương nhiên, còn sự phù hợp giữa chúng chỉ là ngẫu nhiên.
1.4.3 – Cung và cầu. Cung và cầu gắn với phân công lao động xã hội. Bộ phận lao động xã hội được phân công vào một ngành nào đó tạo ra cung trong ngành ấy đồng thời lại tạo ra cầu về những mặt hàng khác, tức là các ngành làm thị trường cho nhau.
Cầu có khả năng thanh toán về tư liệu tiêu dùng gắn với sự tồn tại của các giai cấp và các tầng lớp xã hội khác nhau, họ phân chia nhau thu nhập, tiêu dùng thu nhập đó và tạo ra cầu. Cung và cầu về tư liệu sản xuất gắn với cơ cấu của quá trình tái sản xuất xã hội. Bởi vậy, muốn hiểu đúng và điều tiết quan hệ cung cầu phải phân tích kết cấu giai cấp xã hội và cơ cấu tái sản xuất xã hội.
Cung và cầu có sức co dãn và thường thay đổi luôn. Cầu vận động ngược chiều với giá cả thị trường của hàng hóa và cùng chiều với mức thu nhập. Cung vận động cùng chiều với giá cả đầu ra nhưng cũng vận động ngược chiều với giá cả đầu vào. Chẳng hạn, giá cả vải bông tăng kích thích tăng cung về vải bông, hoặc giá bông giảm cũng có thể dẫn đến tăng cầu về bông, do đó tăng cung về vải bông, nếu việc bán vải bông vẫn thu được lợi nhuận. Như vậy, cầu về yếu tố đầu vào quyết định cung đầu ra, hoặc trái lại, cung đầu ra quyết định cầu yếu tố đầu vào: sản xuất quyết định thị trường và thị trường quyết định sản xuất.
Sự biến động của quan hệ cung cầu có thể do sự biến đổi về phía cung hoặc phía cầu, hoặc do cả hai. Sự biến động đó vừa tạo ra sự chênh lệch giữa cung và cầu vừa có xu hướng tự phát thủ tiêu sự chênh lệch đó. Thí dụ; cầu giảm làm cho giá cả thị trường giảm xuống thì có thể dẫn đến giảm đầu tư vào ngành này khiến cho cung giảm xuống; hoặc là người ta sẽ áp dụng những phát minh mới làm giảm thời gian lao động xã hội cần thiết đến mức ngang với giá cả thị trường đã hạ xuống. Hoặc là khi cầu tăng lên làm cho giá cả thị trường tăng lên cao hơn giá trị thị trường thì sẽ kích thích tăng đầu tư vào ngành này làm cho sản xuất mở rộng và cung tăng lên, nên giá cả thị trường lại hạ xuống. Trừ trường hợp phải đầu tư vào những điều kiện sản xuất xấu hơn để đáp ứng cầu tăng lên (chẳng hạn, đầu tư vào ruộng đất xấu để đáp ứng cầu về lương thực) thì có thể giá cả thị trường cao tồn tại trong một thời gian dài.
1.4.4 – Cạnh tranh: Giá cả thị trường còn chịu tác động của cạnh tranh gắn với quan hệ cung cầu. Đằng sau mối quan hệ giữa hàng và tiền là quan hệ giữa những người sản xuất, những người bán (phía cung) với những người mua, những người tiêu dùng (phía cầu), kể cả tiêu dùng sản xuất và tiêu dùng cá nhân. Hai nhóm này tác động lẫn nhau, cạnh tranh với nhau với tư cách là một hợp lực. Khi cung lớn hơn cầu, bên mua có thế mạnh, cùng nhau ép giá xuống, trong khi đó từng người bán cũng phải hạ giá để tranh bán với bạn hàng của mình. Khi cung nhỏ hơn cầu thì bên mua ở vào thế yếu, người này tranh mua với người khác đẩy giá lên, đồng thời bên bán cũng cùng nhau nâng giá càng cao càng tốt.
Ba trường hợp trên cũng biểu hiện tác động của quy luật giá trị: 1) Do giá cả thị trường phụ thuộc nhiều nhân tố nên giá cả thị trường phù hợp với giá trị thị trường chỉ là ngẫu nhiên, sự chênh lệch giữa giá cả thị trường với giá trị thị trường là hiện tượng phổ biến. Khi giá cả thị trường cao hơn giá trị thị trường chứng tỏ cung nhỏ hơn cầu, khi giá cả thị trường thấp hơn giá trị thị trường chứng tỏ cung lớn hơn cầu. Đó là tín hiệu giúp cho người sản xuất quyết định tăng hay giảm sản xuất mặt hàng nào và bán hay mua vào thời điểm nào, trên thị trường nào. Nói cách khác, đây là tác động của quy luật giá trị điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hóa. 2) Xí nghiệp nào ứng dụng những thành tựu khoa học – công nghệ mới để nâng cao năng suất lao động, hạ giá trị cá biệt của hàng hóa thấp hơn giá trị thị trường của nó sẽ có ưu thế trong cạnh tranh và thu lợi nhuận siêu ngạch. Đây là động lực thúc đẩy cải tiến kỹ thuật, hợp lý hóa sản xuất. 3) Những xí nghiệp thu được lợi nhuận siêu ngạch sẽ giầu hơn lên. Trong khi đó những xí nghiệp lạc hậu, năng suất lao động thấp, giá trị cá biệt của hàng hóa cao hơn giá trị thị trường, sẽ ở thế yếu trong cạnh tranh và bị thua lỗ, thậm chí bị phá sản. Như vậy, tác động của quy luật giá trị dẫn đến phân hóa hai cực giầu và nghèo; thực hiện sự chọn lọc tự nhiên.
Nghiên cứu hai thuộc tính của hàng hóa C. Mác không những nhấn mạnh giá trị sử dụng là giá trị sử dụng cho người khác mà còn rút ra nhận xét: Nếu như đối với giá trị sử dụng của hàng hóa lao động chứa đựng trong hàng hóa đó chỉ có ý nghĩa về mặt chất, thì đối với đại lượng giá trị, lao động đó chỉ có ý nghĩa về mặt lượng mà thôi; sau khi nó đã được quy thành lao động của con người, không có tính chất gì khác hơn nữa cả. Trong trường hợp thứ nhất, vấn đề là lao động được tiến hành như thế nào và sản xuất ra cái gì; trong trường hợp thứ hai, vấn đề là đã tiêu phí bao nhiêu lao động và lao động đó đã tiếp tục trong một thời gian bao lâu.
Phải tính hao phí lao động vì trong kinh tế thị trường khi nói đến cầu là xét cầu có khả năng thanh toán chứ không phải là cầu tự nhiên, nên hàng hóa được sản xuất ra không những phải đáp ứng nhu cầu thị hiếu của người tiêu dùng mà còn phải có giá cả phù hợp với mức thu nhập khác nhau của từng tầng lớp dân cư.
1.5 – Thị trường mở rộng đã thúc đẩy công trường thủ công chuyển lên đại công nghiệp và đại công nghiệp lại tạo ra thị trường thế giới, thúc đẩy xu thế quốc tế hóa đời sống kinh tế.
Thị trường mở rộng không ngừng, nhu cầu luôn luôn tăng lên, công trường thủ công không thỏa mãn được nhu cầu xã hội, khi ấy máy móc ra đời dẫn đến cuộc cách mạng công nghiệp. Đại công nghiệp thay thế công trường thủ công đã tạo ra thị trường thế giới. Đại công nghiệp đòi hỏi nguồn nguyên liệu dồi dào và thị trường tiêu thụ sản phẩm rộng lớn đã thúc đẩy giai cấp tư sản xâm lấn khắp toàn cầu. Đồng thời chính đại công nghiệp lại tạo ra những phương tiện giao thông tiến bộ khiến cho thương nghiệp, hàng hải phát triển mau chóng lạ thường. Sự phát triển này lại tác động trở lại việc mở rộng công nghiệp. Những ngành công nghiệp dân tộc bị thay thế bởi những ngành công nghiệp mới, những ngành này không dùng nguyên liệu bản xứ mà dùng những nguyên liệu đưa từ những miền xa xôi nhất trên trái đất đến và sản phẩm làm ra không những được tiêu thụ tại chỗ mà còn được tiêu thụ ở các nước trên trái đất nữa.
V.I. Lenin cũng so sánh: những phương thức sản xuất cũ, mang nặng tính chất tự nhiên, thì các đơn vị kinh tế có thể tồn tại hàng thế kỷ mà không hề thay đổi tính chất và phạm vi, không vượt ra khỏi phạm vi chật hẹp của cái chợ lân cận, nhỏ bé; trái lại, phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa theo cơ chế thị trường thì lưu thông hàng hóa tất yếu vượt ra ngoài giới hạn từng vùng, rồi vượt cả biên giới quốc gia để tìm thị trường ngoài nước. Điều này chứng tỏ sự nghiệp lịch sử tiến bộ của chủ nghĩa tư bản, nó xóa bỏ tính biệt lập, đóng cửa lâu đời của các chế độ kinh tế, tập hợp tất cả các nước trên thế giới thành một chính thể kinh tế.
(Kỳ sau: Vận dụng vào thực tiễn Việt Nam)
Tài liệu tham khảo:
C. Mác và Ph. Ang-ghen, toàn tập, tập 23, NXB CTQG, Hà Nội – 1993.
C. Mác và Ph. Ang-ghen, toàn tập, tập 24, NXB CTQG, Hà Nội – 1994.
C. Mác và Ph. Ang-ghen, toàn tập, tập 25, phần I, NXB CTQG, Hà Nội -1994. C. Mác và Ph. Ang-ghen, toàn tập, tập 25, phần II, NXB CTQG, Hà Nội – 1994.
C. Mác và Ph. Ang-ghen, toàn tập, tập 26, phần I, NXB CTQG, Hà Nội – 1995.
C. Mác và Ph. Ang-ghen, toàn tập, tập 26, phần II, NXB CTQG, Hà Nội – 1995.
V.I. Lenin, toàn tập, tập 2, NXB Tiến Bộ, Mat-xcơ-va – 1974.
V.I. Lenin, toàn tập, tập 3, NXB Tiến Bộ, Mat-xcơ-va – 1976
V.I. Lenin, toàn tập, tập 4, NXB Tiến Bộ, Mat-xcơ-va – 1974.
V.I. Lenin toàn tập, tập 5, NXB Tiến Bộ, Mat-xcơ-va – 1975.