Một số nội dung mới và quan trọng về kinh tế trong Văn kiện Đại hội XI của Đảng

Quá trình đổi mới trong 25 năm qua của đất nước ta, dưới sự lãnh đạo của Đảng, là một quá trình liên tục, có những bước đột phá quan trọng. Đại hội sau luôn kế thừa, bổ sung và phát triển những nhận thức và quyết sách về đường lối phát triển kinh tế của các Đại hội trước. Dưới đây xin giới thiệu một số vấn đề mới và nội dung quan trọng về phát triển kinh tế trong các Văn kiện Đại hội XI.

1- Về quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị

Giải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị có vị trí đặc biệt quan trọng trong đường lối đổi mới toàn diện đất nước của Đảng ta.

Bước vào thời kỳ đổi mới, Đại hội VI của Đảng đã chỉ rõ: Nhiều năm nay, trong nhận thức của chúng ta về chủ nghĩa xã hội có nhiều quan niệm lạc hậu, nhất là những quan niệm về công nghiệp hóa, về cải tạo xã hội chủ nghĩa, về cơ chế quản lý kinh tế, về phân phối lưu thông... Vì vậy, phải đổi mới, trước hết là đổi mới tư duy, chúng ta mới có thể vượt qua khó khăn... Đổi mới tư duy trong mọi lĩnh vực của Đảng và Nhà nước là việc cấp bách, đồng thời là việc thường xuyên, lâu dài.

Tổng kết chặng đường đổi mới qua 10 năm, Đại hội VIII đã rút ra một trong những bài học chủ yếu là: Kết hợp chặt chẽ ngay từ đầu đổi mới kinh tế với đổi mới chính trị, lấy đổi mới kinh tế làm trọng tâm, đồng thời từng bước đổi mới chính trị. Xét trên tổng thể, Đảng ta bắt đầu công cuộc đổi mới từ đổi mới về tư duy chính trị trong việc hoạch định đường lối và các chính sách đối nội, đối ngoại. Không có sự đổi mới đó thì không có mọi sự đổi mới khác.

Đại hội X đã nhận định: Lý luận chưa giải đáp được một số vấn đề của thực tiễn đổi mới và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta, đặc biệt là trong việc giải quyết các mối quan hệ, trong đó có mối quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị. Đã rút ra một trong những bài học lớn về yêu cầu đổi mới toàn diện là: Phải đổi mới từ nhận thức, tư duy đến hoạt động thực tiễn; từ kinh tế, chính trị, đối ngoại đến tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội.

Tại Đại hội XI, tổng kết 10 năm thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010, đã xác định một trong những nguyên nhân chủ quan của hạn chế, yếu kém là: Tư duy phát triển kinh tế - xã hội và phương thức lãnh đạo của Đảng chậm đổi mới, chưa đáp ứng kịp yêu cầu phát triển đất nước. Trong tổng kết thực hiện nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội 5 năm, đối với những hạn chế, yếu kém, nguyên nhân chủ quan được coi là trực tiếp và quyết định nhất, trong đó nguyên nhân được đề cập đến đầu tiên là: Công tác nghiên cứu lý luận, tổng kết thực tiễn nhìn chung vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu; nhận thức trên nhiều vấn đề cụ thể của công cuộc đổi mới còn hạn chế, thiếu thống nhất.

Thực tế đó đòi hỏi, trong những năm tới, không thể chỉ đổi mới hệ thống chính trị, mà phải tiếp tục đổi mới tư duy chính trị. Cương lĩnh (bổ sung, phát triển năm 2011) đã xác định quan hệ giữa đổi mới kinh tế và đổi mới chính trị là một trong tám mối quan hệ lớn phải đặc biệt chú trọng, nắm vững và giải quyết tốt trong suốt thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 10 năm tới, Đảng ta đã xác định yêu cầu và nội dung đổi mới chính trị: Đổi mới đồng bộ và phù hợp về kinh tế và chính trị vì mục tiêu xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh... Đổi mới chính trị phải đồng bộ với đổi mới kinh tế theo lộ trình thích hợp, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, mở rộng dân chủ trong Đảng và trong xã hội gắn với tăng cường kỷ luật, kỷ cương để thúc đẩy đổi mới toàn diện và phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc vì mục tiêu xây dựng nước Việt Nam xã hội chủ nghĩa dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh. Lấy việc thực hiện mục tiêu này làm tiêu chuẩn cao nhất để đánh giá hiệu quả của quá trình đổi mới và phát triển.

2- Về mối quan hệ giữa phát triển lực lượng sản xuất và từng bước xây dựng, hoàn thiện quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp

Đây là một mối quan hệ lớn được Đảng ta đặc biệt quan tâm và liên tục có nhiều đổi mới rất quan trọng, có tính đột phá, nhất là từ Đại hội VI đến nay. Bước vào thời kỳ đổi mới, chúng ta ngày càng khẳng định rõ: Phải từng bước xây dựng, hoàn thiện quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, nhằm phát triển lực lượng sản xuất, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội trên đất nước ta. Đại hội VIII xác định: Mục tiêu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa là xây dựng nước ta thành một nước công nghiệp có cơ sở vật chất - kỹ thuật hiện đại, cơ cấu kinh tế hợp lý, quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất, đời sống vật chất và tinh thần cao, quốc phòng, an ninh vững chắc, dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh. Đại hội IX xác định rõ thêm: Phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp trên cả ba mặt sở hữu, quản lý và phân phối.

Nhưng căn cứ vào đâu để đánh giá được trong thực tiễn sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất trong quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội. Đảng ta đã không ngừng tìm tòi, và từ thực tiễn đổi mới của đất nước, Đại hội VIII khẳng định: Lấy việc giải phóng sức sản xuất, động viên tối đa mọi nguồn lực bên trong và bên ngoài cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa, nâng cao hiệu quả kinh tế và xã hội, cải thiện đời sống của nhân dân làm mục tiêu hàng đầu trong việc khuyến khích phát triển các thành phần kinh tế và hình thức tổ chức kinh doanh. Đại hội IX khẳng định rõ thêm: Tiêu chuẩn căn bản để đánh giá hiệu quả xây dựng quan hệ sản xuất theo định hướng xã hội chủ nghĩa là thúc đẩy phát triển lực lượng sản xuất, cải thiện đời sống nhân dân, thực hiện công bằng xã hội. Qua tổng kết 20 năm đổi mới, Đại hội X đã kế thừa và phát triển tinh thần của Đại hội VIII và IX, xác định đầy đủ hơn về đặc trưng kinh tế của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là: 'Có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất'(1). (Cương lĩnh năm 1991 xác định là:... dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và chế độ công hữu về các tư liệu sản xuất chủ yếu).

Qua tổng kết 20 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991, Đại hội XI đã thảo luận và biểu quyết với đa số phiếu tán thành nội dung đặc trưng kinh tế của xã hội xã hội chủ nghĩa mà nhân dân ta xây dựng là: 'có nền kinh tế phát triển cao dựa trên lực lượng sản xuất hiện đại và quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp'(2). Sự phù hợp ở đây bao gồm cả phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất hiện đại và phù hợp với bản chất, mục tiêu của chủ nghĩa xã hội. Đây là một bước bổ sung, phát triển Cương lĩnh năm 1991 và các nghị quyết của Đảng từ sau đổi mới về vấn đề này.

Từ những thành tựu của quá trình đổi mới, Đại hội XI đã tiếp tục xác định rõ thêm những chủ trương, chính sách lớn của Đảng về xây dựng, hoàn thiện quan hệ sản xuất trong những năm tới. Những quan điểm, chính sách quan trọng tiếp tục được khẳng định là:

- Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa với nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối. Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài, hợp tác và cạnh tranh lành mạnh... Các hình thức sở hữu hỗn hợp và đan kết với nhau hình thành các tổ chức kinh tế đa dạng ngày càng phát triển. Trong các hình thức sở hữu hỗn hợp đó, chủ yếu là các doanh nghiệp cổ phần, cần khuyến khích phát triển để các hình thức tổ chức kinh doanh này trở thành phổ biến trong nền kinh tế, thúc đẩy xã hội hóa sản xuất kinh doanh và sở hữu.

Phải tăng cường tiềm lực và nâng cao hiệu quả của kinh tế nhà nước. Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, là lực lượng vật chất quan trọng để Nhà nước định hướng và điều tiết nền kinh tế, góp phần ổn định kinh tế vĩ mô..., phát triển mạnh kinh tế tư nhân trở thành một trong những động lực của nền kinh tế. Khuyến khích kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài phát triển theo quy hoạch.

- Quan hệ phân phối bảo đảm công bằng và tạo động lực cho phát triển; các nguồn lực được phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội; thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội.

- Tăng cường vai trò quản lý của Nhà nước đối với nền kinh tế, phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực, những khiếm khuyết của cơ chế thị trường. Đồng thời phải tôn trọng và phát huy đầy đủ vai trò của các chủ thể kinh doanh.

3- Về yêu cầu phát triển bền vững nền kinh tế nước ta

Cả trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 và Báo cáo Chính trị của BCH T.Ư khóa X được Đại hội XI thông qua đều rút ra bài học về mục tiêu phải bảo đảm phát triển bền vững nền kinh tế; đó là: Đặc biệt coi trọng chất lượng, hiệu quả tăng trưởng và phát triển bền vững, nâng cao chất lượng và hiệu quả của nền kinh tế, đồng thời duy trì tỷ lệ tăng trưởng hợp lý.

Báo cáo đánh giá tình hình thực hiện Chiến lược 10 năm qua đã xác định một trong những yếu kém của chúng ta là: kinh tế phát triển chưa bền vững. Chất lượng tăng trưởng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế thấp, các cân đối kinh tế vĩ mô chưa vững chắc...

Những quan điểm và giải pháp lớn Đại hội XI đã xác định để thực hiện mục tiêu phát triển bền vững nền kinh tế là:

- Nội hàm phát triển bền vững nền kinh tế ở nước ta là: Coi chất lượng, năng suất, hiệu quả, sức cạnh tranh là yêu cầu ưu tiên hàng đầu, chú trọng phát triển theo chiều sâu, phát triển kinh tế tri thức. Tăng trưởng kinh tế phải kết hợp hài hòa với phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân. Phát triển kinh tế - xã hội phải luôn coi trọng bảo vệ và cải thiện môi trường, chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu.

- Quan hệ giữa phát triển nhanh và bền vững của nước ta là: Nước ta có điều kiện phát triển nhanh và yêu cầu phát triển nhanh cũng đang được đặt ra hết sức cấp thiết. Phát triển bền vững là cơ sở để phát triển nhanh, phát triển nhanh để tạo nguồn lực cho phát triển bền vững.

Phát triển nhanh và bền vững phải luôn gắn chặt với nhau trong quy hoạch, kế hoạch và chính sách phát triển kinh tế - xã hội.

- Điều kiện để phát triển bền vững là: Phải đặc biệt coi trọng giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tăng cường quốc phòng, an ninh, bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ để bảo đảm cho đất nước phát triển nhanh và bền vững.

- Những giải pháp lớn để phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế nước ta là:

Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, bảo vệ tài nguyên và môi trường. Phải có những giải pháp đồng bộ để phát triển kinh tế tri thức. Hết sức coi trọng vai trò của khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo. Đổi mới căn bản và toàn diện nền giáo dục Việt Nam. Bảo vệ môi trường là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và của mọi công dân.

Chuyển đổi mô hình tăng trưởng và thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế. Chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hợp lý giữa chiều rộng và chiều sâu, vừa mở rộng quy mô, vừa chú trọng nâng cao chất lượng, hiệu quả, tính bền vững. Thực hiện cơ cấu lại nền kinh tế, trọng tâm là cơ cấu lại các ngành sản xuất, dịch vụ phù hợp với các vùng; thúc đẩy cơ cấu lại doanh nghiệp và điều chỉnh chiến lược thị trường; tăng nhanh giá trị nội địa, giá trị gia tăng và sức cạnh tranh của sản phẩm, doanh nghiệp và của cả nền kinh tế, phát triển kinh tế tri thức. Gắn phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường, phát triển kinh tế xanh.

Phải chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, đồng thời giữ vững, tăng cường độc lập, tự chủ trong phát triển kinh tế.

Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế đồng thời chú trọng phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước và từng chính sách.

4- Về giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển nền kinh tế thị trường ở nước ta

Từ các Đại hội VIII, IX, X, Đảng ta đã không ngừng hoàn thiện nhận thức và chỉ đạo thực tiễn về vấn đề quan trọng này.

Qua tổng kết 25 năm đổi mới, Đại hội XI đã tiếp tục xác định rõ thêm những vấn đề cần quan tâm để giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển kinh tế thị trường ở nước ta thời gian tới là:

- Về mục đích, trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cơ chế thị trường phải được vận dụng đầy đủ để phát huy mạnh mẽ mọi nguồn lực nhằm phát triển nhanh và bền vững nền kinh tế, nâng cao đời sống nhân dân, khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xóa đói, giảm nghèo, tăng cường đồng thuận xã hội để thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.

- Về mối quan hệ giữa các thành phần kinh tế, chủ thể kinh tế, trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, cần phát huy quyền tự do kinh doanh theo pháp luật của mọi công dân để làm giàu cho bản thân và đóng góp cho xã hội; mọi thành phần kinh tế, các chủ thể tham gia thị trường đều được coi trọng, cùng phát triển lâu dài, hợp tác, cạnh tranh bình đẳng, lành mạnh và văn minh, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo.

- Về mối quan hệ giữa hội nhập quốc tế và độc lập, tự chủ, phải chủ động, tích cực hội nhập quốc tế, đồng thời giữ vững tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế.

- Về mối quan hệ giữa phát triển kinh tế và phát triển văn hóa, xã hội, phát triển kinh tế đi đôi với phát triển văn hóa, xã hội, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội. Công bằng trong phân phối các yếu tố sản xuất, tiếp cận các cơ hội kinh doanh và phân phối kết quả làm ra.

- Phát huy hiệu lực, hiệu quả quản lý nền kinh tế của Nhà nước, chú trọng phát huy mặt tích cực, khắc phục mặt trái, tiêu cực của cơ chế thị trường; phát huy quyền làm chủ của nhân dân trong lĩnh vực kinh tế.

PGS, TSKH

Nguyễn Văn Đặng

(1) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, trang 68.

(2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2011, trang 70.