Trước khi kết thúc năm 2009, ngành cà phê Việt Nam đã rất lạc quan tin tưởng sang năm 2010, xuất khẩu cà phê sẽ nhanh chóng hồi phục bởi lượng cung trên thị trường thế giới giảm trong khi cầu tăng. Song, diễn biến tiêu thụ cà phê những tháng đầu niên vụ 2010 đang đi ngược lại dự báo.
Bấy lâu, nông dân Việt Nam luôn rơi vào vòng luẩn quẩn được mùa rớt giá, nhưng với ngành cà phê thời gian này, nghịch lý đã xảy ra, sản lượng giảm, song giá lại tụt giảm thê thảm. Theo Bộ NN&PTNT, lượng cà phê còn tồn trong cả nước tính đến thời điểm này khoảng 600.000 tấn. Sau hơn 3 tháng chờ giá, nông dân đã bắt đầu bán tháo do áp lực nợ vay, do cần vốn đầu tư cho vụ mới. Theo tính toán, nông dân phải bán được giá 25 triệu đồng/tấn thì mới có lãi, nhưng hiện các doanh nghiệp (DN) xuất khẩu chỉ có thể mua với giá 22,5 triệu đồng/tấn.
Giá cà phê ở Đắk Lắk hiện đang lấp lửng ở mức dưới 23 triệu đồng/tấn, thấp nhất trong nhiều năm qua. Ông Trần Tấn Đạt, một người trồng cà phê ở tổ dân phố 9, phường Ea Tam, thành phố Buôn Ma Thuột cho biết, ông vừa bán 1 tấn cà phê nhân, thu được hơn 20 triệu đồng, gần như hòa vốn. Công 2 vợ chồng, chăm sóc 4 sào vườn trong suốt cả năm coi như bằng không. Biết giá thấp, nhưng kinh tế gia đình eo hẹp, ông Đạt vẫn phải bán để lấy tiền đầu tư phân bón, nước tưới, vì lúc này các đại lý cà phê, đại lý phân bón, không còn tạm ứng cho người dân như những niên vụ trước.
Không chỉ rơi vào tình trạng suy thoái giá, Đắk Lắk-vùng sản xuất cà phê lớn nhất cả nước đang trong tình trạng suy giảm về sản lượng và chất lượng. Liên tiếp 3 vụ cà phê gần đây, nhiều vùng cà phê chủ lực của tỉnh chỉ đạt 60-80% sản lượng so với trung bình nhiều năm. Ngược lại, tỷ lệ hạt nhỏ, hạt kém chất lượng lại tăng hơn 20%. Một trong những nguyên nhân của tình trạng này là người trồng phải bán cà phê vào thời điểm giá thấp nên không đủ kinh phí để tái đầu tư, chăm bón.
Theo dự báo kim ngạch xuất khẩu cà phê năm 2010 chỉ đạt khoảng 1 tỷ USD, giảm hơn 40% so với năm 2009. Hiệp hội Cà phê, Ca cao Việt Nam (Vifoca) cho biết, phương thức bán trừ lùi (tức ký hợp đồng mua bán kỳ hạn nhưng không chốt giá) cũng tạo điều kiện cho các nhà đầu cơ nước ngoài ép giá.
Mặc dù, đây là phương thức được đánh giá là tiến bộ so với giao ngay (người mua và người bán chốt giá ngay tại thời điểm ký hợp đồng mua bán), nhưng do công tác dự báo thị trường của Việt Nam còn yếu, các DN chưa đủ đội ngũ nhân viên dày dạn kinh nghiệm bán hàng kỳ hạn nên bị các quỹ đầu cơ nước ngoài thao túng, hạ giá cà phê trong thời điểm DN Việt Nam giao hàng dẫn đến thua lỗ.
Ông Lương Văn Tự - Chủ tịch Vicofa nhận định, ngành cà phê trong nước phải đối mặt với những biến động quá lớn, diễn biến phức tạp, khó lường. Mặt khác, hầu hết các DN xuất khẩu cà phê Việt Nam đều trong tình trạng thiếu vốn. Bởi vậy, khi giá cà phê hạ, DN trong nước không xuất khẩu được, nông dân phải bán với giá thấp đã tạo điều kiện cho các DN nước ngoài đầu cơ, thu lợi nhuận cao.
Để cứu vãn, Chính phủ đã giao Tổng Công ty Cà phê Việt Nam quản lý nguồn tiền hỗ trợ 6% lãi suất trong vòng 6 tháng để mua tạm trữ 200.000 tấn cà phê niên vụ 2009-2010. Theo phân tích, khi Việt Nam mua dự trữ sẽ làm cho nguồn cung giảm, tác động tâm lý tới giá giao dịch trên thị trường thế giới, kéo giá cà phê lên.
Tuy nhiên, đến tháng 4 và tháng 5 khi hai cường quốc xuất khẩu cà phê là Indonesia và Brazil bước vào vụ thu hoạch thì nguồn cung thế giới sẽ tăng lên, nên việc dự trữ của Việt Nam còn phải chờ đợi chiến lược bán hàng của hai quốc gia này mới có thể phát huy hiệu quả. Hơn nữa, hiện giá giao dịch cà phê vẫn sụt giảm, chưa có điểm đáy và cũng chưa xác định được thời điểm nào giá sẽ đi lên. Do đó, không ít DN không mặn mà với việc thu mua tạm trữ này.
Mặt khác, nhiều ý kiến cho rằng, nên hỗ trợ trực tiếp người trồng cà phê như cho vay hỗ trợ lãi suất hoặc khoanh nợ. Còn về lâu dài, để không bị các nhà đầu cơ nước ngoài thao túng, cần nhanh chóng đưa sàn giao dịch cà phê của nước ta đi vào hoạt động. Tăng cường mối liên kết giữa các DN xuất khẩu cà phê của Việt Nam và giữa Việt Nam với các cường quốc cà phê.