Bài báo có sức thuyết phục
Không phải bây giờ vấn đề bảo tồn, phát huy các giá trị di sản văn hóa mới được đưa ra bàn thảo, phản ánh trước công luận. Tuy nhiên, sau khi đọc vệt 4 bài phóng sự điều tra “Làm chưa hay như nói” của tác giả Đoàn Xuân Bộ về vấn đề này, công chúng đã có thêm cái nhìn đa chiều, toàn diện và sâu sắc hơn về vấn đề giữ gìn, bảo tồn, trùng tu, tôn tạo và phát huy giá trị những di sản văn hóa vật thể ở nước ta hiện nay. Từ những ví dụ cụ thể, bằng chứng sinh động thông qua “chân đi, mắt nhìn, tay sờ” một số di tích lịch sử-văn hóa ở cả ba miền Bắc, Trung, Nam, cùng với sự quan sát kỹ lưỡng và trải nghiệm thực tế sâu sắc, tác giả đã phản ánh những mặt làm được, đồng thời nêu lên những bất cập, tồn tại, hạn chế và cả những vướng mắc, “bùng nhùng” xung quanh vấn đề rất đáng quan tâm này. Không chỉ dừng lại ở đó, điều quan trọng là tác giả đã có cách phân tích, luận giải một cách sâu sắc ở từng khía cạnh cụ thể, có sức thuyết phục, đề xuất những hướng đi, những biện pháp giải quyết, “tháo gỡ” những khó khăn trong công tác bảo vệ, trùng tu, tôn tạo và phát huy các giá trị di sản văn hóa Việt Nam thời hội nhập. Vì thế, loạt bài báo này đã có sức thuyết phục.
Vốn “nặng lòng” với những di sản văn hóa của tổ tiên, tôi rất chia sẻ với nỗi băn khoăn, trăn trở về những tồn tại, hạn chế và cả những mong muốn, kiến nghị của tác giả Đoàn Xuân Bộ về vấn đề bảo tồn và phát huy giá trị di sản văn hóa Việt Nam hiện nay. Nhân đây, tôi muốn nói thêm và đóng góp một đôi điều về di sản văn hóa - vấn đề mà theo tôi - có ý nghĩa quyết định đến việc giữ gìn bản sắc văn hóa - “tấm thẻ căn cước của dân tộc Việt Nam” trong tiến trình hội nhập sâu rộng vào thế giới.
Thêm một góc nhìn “cận cảnh”
Trước hết phải khẳng định rằng, phần lớn các di tích lịch sử văn hóa của nước ta hiện nay vẫn được quản lý, giữ gìn, bảo tồn và đang phát huy tốt. Tuy nhiên, vẫn còn không ít địa phương chỉ “quan tâm” đến di tích vào dịp lễ, Tết hay vào lúc tổ chức lễ hội ở di tích đó, thời gian còn lại (có nơi hầu như quanh năm suốt tháng) thì phó mặc, khoán trắng cho ban quản lý di tích. Khốn nỗi, gọi là ban cho “oai” nhưng thực tế chỉ có 2-3 người, thậm chí chỉ có 1 người thì khó có thể kiểm tra, kiểm soát, giữ gìn, bảo vệ di tích đến nơi đến chốn trong mọi lúc mọi nơi. Đấy là chưa kể số người này dù “có danh” mà vẫn “vô thực”, nghĩa là chỉ đơn thuần làm nhiệm vụ trông coi, dọn dẹp vệ sinh, chứ không có quyền ngăn chặn hiệu quả các hành vi xâm hại di tích. Mặt khác, quyền lợi dành cho lực lượng này không đáng là bao, vậy thì họ làm sao gắn bó thiết tha và luôn tận tụy, làm hết trách nhiệm của mình ngày này qua tháng khác được?
Đối với việc xảy ra sai sót trong công tác tu bổ, tôn tạo các di tích lịch sử là do người thực hiện công việc quan trọng này thiếu kiến thức chuyên môn nghiệp vụ cần thiết. Di sản văn hóa thường là những gì tinh túy nhất, cô đọng nhất của văn hóa, nghệ thuật, kiến trúc và cả yếu tố tâm linh mà ông cha đã gửi gắm vào đó. Thế nhưng một số nơi trùng tu, tôn tạo di tích, người ta vẫn “hồn nhiên, vô tư” thuê cả những anh chàng thợ mộc, thợ nề, thợ ngõa... chỉ mới đọc thông viết thạo và tính được mấy phép tính đơn giản đi làm... di tích! Rồi quá trình thi công, trùng tu, tôn tạo di tích vừa có biểu hiện bớt xén nguyên vật liệu, vừa không tuân thủ nghiêm ngặt các nguyên tắc, kỹ thuật, mỹ thuật thiết kế ban đầu. Thậm chí có người muốn thay thế di tích lịch sử văn hóa của ông cha bằng một... hình thế, kiểu dáng mới “hoành tráng hơn”, “lòe loẹt” hơn “cho cha ông đỡ tủi thân” mà không nhận thức ngọn nguồn và sâu sắc rằng: Di tích chỉ có giá trị khi nó phù hợp với từng thời điểm lịch sử nhất định. “Gieo vừng ra ngô”, “đầu Ngô mình Sở”, “đầu voi đuôi chuột”... từng xuất hiện ở một vài di tích mà dư luận đã lên tiếng cảnh báo nhiều lần, chính là “hệ quả tất yếu” của những suy nghĩ ấu trĩ, nhận thức nông nổi và việc làm bột phát đó.
Tiếng nói từ trái tim
Khi nhìn nhận đúng những căn nguyên dẫn đến những tồn tại thì phải tìm ra biện pháp tháo gỡ hợp lý, hợp tình. Chúng tôi xin bổ sung thêm một vài kiến nghị:
Rất cần làm một “cuộc cách mạng” nâng cao nhận thức cho toàn xã hội về công tác giữ gìn, bảo vệ, trùng tu, tôn tạo các di tích lịch sử văn hóa, mà trước hết là đội ngũ cán bộ lãnh đạo cấp ủy, chính quyền nơi có các di tích và đội ngũ cán bộ, nhân viên làm công tác chuyên môn nghiệp vụ về lĩnh vực này. Có hiểu biết đầy đủ, nhận thức sâu sắc về giá trị, ý nghĩa, tầm quan trọng của di tích lịch sử văn hóa mới góp phần hạn chế việc “biến dạng gương mặt” và “méo mó hồn cốt” của ông cha!
Trước khi trùng tu, tôn tạo di tích nào, rất cần tranh thủ tiếng nói trực tiếp của những người cao tuổi ở địa phương đó. Người xưa đã dạy: “Đi đường hỏi già, về nhà hỏi trẻ”. Bằng những hiểu biết, sự trải nghiệm của mình, những “pho sử sống” ấy sẽ có những đóng góp ý kiến tâm huyết, thiết thực để bảo đảm cho việc trùng tu, tôn tạo di tích vừa giữ được yếu tố gốc, vừa hạn chế tới mức thấp nhất những sai sót không đáng có.
Chăm lo hơn nữa đến đội ngũ cán bộ, nhân viên làm công tác di sản văn hóa, bảo vệ các di tích, nhất là ở địa phương và cơ sở, kể cả những ông từ trông đền, những cô thôn nữ có công quét rác, nhặt cỏ quanh chùa. “Có thực mới vực được đạo”, lực lượng này nếu không có một sự quan tâm, một chính sách hợp lý, thỏa đáng, thật khó có thể nói họ toàn tâm, toàn ý với nhiệm vụ giữ gìn “hồn vía ông cha”!
Và một điều nữa, tôi rất ủng hộ việc chấm dứt đấu thầu trùng tu, tôn tạo di tích. Vì nói đến “đấu thầu” là nói đến lợi ích kinh tế của nhà thầu. Một khi đặt lợi nhuận lên hàng đầu, ai dám khẳng định nhà thầu sẽ dồn công, dồn sức, dồn trí vào công việc trùng tu, tôn tạo di tích, hay ngược lại?
Với bề dày lịch sử hơn 4.000 năm dựng nước và giữ nước, hầu như trên khắp đất nước ta nơi nào cũng có di tích. Thiết nghĩ, một mình Ngành văn hóa không thể đảm đương được nhiệm vụ bảo tồn và phát huy di tích lịch sử văn hóa nếu không có sự chung tay góp sức của các cấp, các ngành, các địa phương và toàn xã hội. Bảo tồn và phát huy di sản văn hóa chính là giữ lại “hồn dân tộc” cho con cháu hôm nay và mai sau. Vì vậy, việc xã hội hóa công tác bảo tồn và phát huy các giá trị di sản văn hóa dân tộc theo luật pháp là đòi hỏi cấp bách trong tình hình hiện nay.
HOÀNG TƯỜNG LAN (Hà Nội)