Cảnh trong vở “Rừng trúc”.
(Xuân 2010) -
Tôi từng đặt vấn đề này trước đạo diễn - NSND Nguyễn Đình Nghi từ hồi ông còn sống, bởi đoan chắc ông đã tự mình đặt câu hỏi ấy, khi dàn dựng những vở diễn rất quan trọng về đề tài lịch sử.
Vấn đề này từng được đặt ra từ thế kỷ 20, cho cả giới sân khấu Việt, nhất là cho người-sân-khấu-Thăng Long Hà Nội, khi đối diện với đề tài lịch sử, đặc biệt là lịch sử Thăng Long ngàn năm trong tác phẩm sân khấu. Và cũng đặt ra về mọi phương diện sáng tạo sân khấu: Người viết kịch lịch sử, người dựng kịch, nghệ sĩ sắm vai kịch lịch sử và cả họa sĩ, nhạc sĩ…, khi thiết kế mỹ thuật và âm nhạc cho vở diễn lịch sử.
Họ, những-người-sân-khấu ấy, đã sáng tạo tác phẩm sân khấu về đề tài lịch sử với thật nhiều tâm huyết. Bởi vậy, nhiều nhân vật lịch sử Việt đã được đưa lên sân khấu thành công. Nhiều nhà viết kịch, đạo diễn, diễn viên thành danh là nhờ thành công từ viết kịch, dựng vở diễn, vào vai các nhân vật lịch sử…
Vì thế, tiêu chí sáng tạo của giới sân khấu về đề tài lịch sử có thể thu gọn vào hai điểm chuẩn: Kịch bản đặt vấn đề lịch sử mang chở được ý nghĩa lớn, tác động rất mạnh đến tâm thế của xã hội hiện đại, thông qua các nhân vật lịch sử chân thật, thuyết phục bằng bản lĩnh lớn, gây cho người xem những tình cảm lớn, thanh lọc tâm hồn khi thưởng thức vở diễn.
Hoàn toàn hữu lý, ngay thuở sinh thời, đạo diễn - NSND Nguyễn Đình Nghi từng quả quyết: Chỉ nhận dàn dựng kịch bản về lịch sử khi hội đủ hai điều kiện nghệ thuật: Vấn đề của kịch bản phải có sức nặng lịch sử - xã hội, và nhân vật kịch phải có bản lĩnh cao cường! Và từ đó, có thể cho rằng: Tình trạng sân khấu hiện đại Việt về cuối thế kỷ 20, đầu thế kỷ 21 xuất hiện nhiều vở diễn lịch sử mờ nhạt là do thiếu vắng hai phẩm chất ấy.
Có lẽ đây là tiêu chí sáng tạo không chỉ của Nguyễn Đình Nghi, mà đã thành nguyên lý chung của giới sân khấu, với những vở diễn lịch sử thành công, nhất là trong hai thập niên vàng của sân khấu Việt hiện đại: Những năm 80-90 thế kỷ 20…
2. Vậy thành công nào về vở diễn đã “đảm bảo bằng vàng” cho tiêu chí này, khi được thực tế sân khấu kiểm nghiệm và chứng minh?
Từ suy ngẫm về những câu hỏi trên, ta có thể nghiệm sinh rằng: Việc “nửa đường đứt gánh” chuyện làm phim “Thái Tổ Lý Công Uẩn” năm 2009 vừa qua của Hãng Phim truyện Việt Nam là ví dụ về việc đã không thể giải quyết rốt ráo từ trong kịch bản phim vấn đề hư cấu nghệ thuật và “sự thật lịch sử” về vị vua đầu triều Lý.
Trong khi đó, các nhà sân khấu từng “đau đầu” từ rất lâu về vấn đề kịch lịch sử và đã hóa giải được vấn đề này. Khi dựng kịch “Rừng trúc” của Nguyễn Đình Thi, viết về vương triều kết thúc vai trò lịch sử nhà Lý tồn tại suốt hai trăm năm, Lý Chiêu Hoàng - vị vua phụ nữ duy nhất và cuối chót nhà Lý - buộc phải nhường ngôi cho Trần Cảnh, bởi mưu soán ngôi của Trần Thủ Độ, cũng đã xảy ra một sự kiện sân khấu về xử lý giữa “sự thật lịch sử” và hư cấu nghệ thuật. Nguyễn Đình Thi - nhà văn, Nguyễn Đình Nghi - đạo diễn và Lê Khanh - nghệ sĩ sắm vai Lý Chiêu Hoàng đều cùng phải nghĩ ngợi và đã đạt đến hài hòa khi xử lý mối quan hệ rất phức tạp này.
Kết quả, Nguyễn Đình Thi đã mất hơn 20 năm chờ đợi và thật hài lòng, khi ý tưởng đó được chuyển hóa thành ngôn ngữ dàn dựng chuyên nghiệp của đạo diễn Nguyễn Đình Nghi và ngôn ngữ biểu diễn sang trọng, tinh tế, biểu cảm của giàn diễn viên NH Tuổi Trẻ, tiêu biểu là Lê Khanh vai Lý Chiêu Hoàng.
Cũng tương tự, trước đó, một vở kịch khác được dựng thành công trên sân khấu NH Kịch VN - cũng của Nguyễn Đình Thi, cũng do Nguyễn Đình Nghi đạo diễn, vở “Nguyễn Trãi ở Đông Quan”. Người sắm vai Nguyễn Trãi đạt đến thành công bất ngờ về nghệ thuật sắm vai chính kịch, lại chính là ông vua hài Trần Tiến…
Do vậy, giới sân khấu và công chúng kịch thủ đô từng đã “tâm phục khẩu phục” cách dựng vở của đạo diễn - NSND Nguyễn Đình Nghi, với lời ông tự răn mình: Đụng vào lịch sử, không thể khinh suất!
Và hoàn toàn đồng thuận, khi Nguyễn Đình Nghi kết luận: Đề tài lịch sử đòi hỏi một sự tiếp cận có văn hóa, có suy nghĩ, có hiểu biết. Và chỉ có thể tạo ra những tác phẩm sân khấu đề tài lịch sử có giá trị trên nền tảng sự hiểu biết sâu sắc, không chỉ riêng về lịch sử mà cả về hiện tại.
Và khi ông viện dẫn chí lý: Một nền kịch bản về lịch sử dân tộc thường là cơ sở cho một nền sân khấu dân tộc… Nhìn nhận lại một cách tổng thể, sân khấu ta vẫn chưa thành công trong việc xây dựng một hệ thống tác phẩm mà nếu làm tốt, sẽ là một tập đại thành thể hiện nhận thức, tri thức, tình cảm của chúng ta đối với lịch sử dựng nước và giữ nước của tổ tiên. Tôi nghĩ rằng, đây là một món nợ đối với lịch sử mà sân khấu phải trả.
3. Món nợ lớn này không chỉ của riêng sân khấu, mà các loại hình nghệ thuật Việt hiện đại đều đang phải bận tâm “trả nợ”.
Hiện nay, món nợ ấy đang đặt ra những thách thức phải vượt qua. Và giới sân khấu Việt - từ nửa cuối thế kỷ 20 cho đến đầu thế kỷ 21 - từng “va đập”, từng nghiệm sinh, thậm chí từng “trả giá” cho tác phẩm sân khấu về đề tài lịch sử, đã tự tích lũy được kinh nghiệm ứng xử nghệ thuật thật đáng quý với tác phẩm sân khấu về đề tài đặc hiệu này.
Bằng vào kinh nghiệm vàng của những vở diễn thành công về đề tài lịch sử ngàn năm Thăng Long - Hà Nội, đã có thể cho rằng: Nếu sân khấu Việt hiện đại là bộ mặt biểu cảm nhất của văn hóa Việt hiện đại, thì sân khấu Hà Nội cũng chính là phương diện biểu cảm đặc trưng cho văn hóa Hà Nội. Đặc biệt, nét hoa nghệ thuật riêng của thể loại kịch, với các nhà hát kịch “đóng đô” ở Hà Nội: Nhà hát Kịch Việt Nam, Nhà hát Kịch Tuổi Trẻ, Nhà hát Kịch Hà Nội, đã thực sự hình thành, thuận theo phát triển hiện đại của chính thể loại này. Đó là nét riêng hào hoa phong nhã tinh tế trong cách viết, cách dàn dựng, biểu diễn và thưởng thức nữa, của kịch Hà Nội hiện đại, về đề tài lịch sử Thăng Long - Hà Nội.
Kịch lịch sử về ngàn năm Thăng Long, do đó, đã thành một vệt sáng trên bản đồ diễn tiến thể loại kịch ở Hà Nội, gắn chặt với thăng trầm của những vở diễn trên sân khấu Hà Nội. Và thông qua những người-sân-khấu Hà Nội, những vở kịch này đã hiện diện “nét hoa Hà Nội” ở các công đoạn sáng tạo: Từ nhà viết kịch đến đạo diễn, nghệ sĩ sắm vai và không thể thiếu “kẻ tri âm” đích thực là công chúng Hà Nội - vốn tinh tế, thanh lịch khi thưởng thức kịch, thể loại phát sáng từ chính sân khấu thủ đô của mình…
Nguyễn Thị Minh Thái