Mô hình kinh tế tổng quát thời kỳ quá độ

Nhân dân - 

ND - Trong bài "Để ngọn cờ chiến đấu của chúng ta mãi giương cao", nói về cái mới trong Dự thảo Cương lĩnh (bổ sung, phát triển) đăng Báo Nhân Dân ngày 21-9-2010 mới đây, tôi có viết rằng:

Xuyên suốt những điểm bổ sung và phát triển, thông qua việc trình bày một cách sáng tạo những quan niệm của Đảng ta về chủ nghĩa xã hội và con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta, ta thấy sự hình thành rõ nét những mô hình phát triển của Việt Nam: mô hình tổng thể về chủ nghĩa xã hội cùng các mô hình cụ thể về từng lĩnh vực như kinh tế - xã hội, văn hóa - con người, hệ thống chính trị và Đảng lãnh đạo.

Tiếp theo mô hình tổng thể về chủ nghĩa xã hội đã nêu, lần này xin thử tìm hiểu mô hình phát triển kinh tế trong thời kỳ quá độ ở nước ta, mong đóng góp một ý kiến nhỏ vào cuộc thảo luận.

Năm 2001, tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, nhìn lại 10 năm thực hiện Cương lĩnh năm 1991, trong khi khẳng định chủ trương thực hiện nhất quán chính sách phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta nêu rõ: Đó là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội.

Có ý kiến cho rằng, nhận định này thiếu toàn diện và không đầy đủ. Bởi kinh tế thị trường (dù là định hướng xã hội chủ nghĩa) vẫn chỉ mới nói đến mặt quan hệ sản xuất chứ chưa làm rõ được mặt phát triển lực lượng sản xuất là nội dung chủ yếu nhất của việc xây dựng chủ nghĩa xã hội.

Thật ra, văn kiện Đại hội IX, ngay từ đầu đã xác định: "Mục đích của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là phát triển lực lượng sản xuất, phát triển kinh tế để xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội, nâng cao đời sống nhân dân. Phát triển lực lượng sản xuất hiện đại gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp trên cả ba mặt sở hữu, quản lý và phân phối".

Nói kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là mô hình kinh tế tổng quát của nước ta trong thời kỳ quá độ là có ý gì? Chắc hẳn bên cạnh sự khẳng định tính nhất quán và lâu dài của chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta còn muốn nêu lên sự khác biệt mô hình phát triển kinh tế ở nước ta với các mô hình phát triển kinh tế khác ở các nước. Nó chẳng những khác với mô hình kinh tế tập trung kiểu Xô-viết trước đây, không giống mô hình kinh tế theo tư duy cũ ở nước ta trước đổi mới mà cũng không giống mô hình kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa của Trung Quốc ngày nay. Về bản chất nó khác hẳn kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa dù đó là kinh tế thị trường dân chủ xã hội, kinh tế thị trường tự do cổ điển hay tự do mới.

Đối chiếu với Cương lĩnh năm 1991, ta thấy trong bảy phương hướng cơ bản xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ, có hai phương hướng được nêu riêng biệt là: phát triển lực lượng sản xuất, công nghiệp hóa đất nước theo hướng hiện đại và phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước (sau này gọi tắt là nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa). Tuy nhiên, khi trình bày những định hướng lớn về chính sách kinh tế thì Cương lĩnh năm 1991 đã gộp hai phương hướng nêu trên vào một đề mục chung là: Phát triển một nền kinh tế nhiều thành phần theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Sự phân tích ở Đại hội VIII và Đại hội IX đều theo lô-gíc này.

Với những nhận thức mới đạt được qua 20 năm thực hiện Cương lĩnh 1991, cả về lý luận và thực tiễn, Dự thảo Cương lĩnh bổ sung và phát triển lần này có sự điều chỉnh rất đáng ghi nhận. Về tám phương hướng cơ bản, tiếp tục ghi: "Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, gắn với phát triển kinh tế tri thức" và "phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa" thành hai phương hướng riêng. Về những định hướng lớn về phát triển kinh tế, tuy vẫn viết dưới một mục chung nhưng đã trình bày rạch ròi hai nội dung lớn ấy.

Về phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, Dự thảo Cương lĩnh đã chỉ rõ đó là:

- Nền kinh tế có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, hình thức tổ chức kinh doanh và hình thức phân phối.

- Các thành phần kinh tế hoạt động theo pháp luật đều là bộ phận hợp thành quan trọng của nền kinh tế, bình đẳng trước pháp luật, cùng phát triển lâu dài và cạnh tranh lành mạnh. Trong đó: Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo. Kinh tế tập thể ngày càng được củng cố và mở rộng. Kinh tế nhà nước và kinh tế tập thể ngày càng trở thành nền tảng vững chắc của nền kinh tế quốc dân. Kinh tế tư nhân là một trong những động lực của nền kinh tế.

- Các hình thức sở hữu hỗn hợp và đan kết với nhau hình thành các tổ chức kinh tế đa dạng ngày càng phát triển. Các yếu tố thị trường tạo lập đồng bộ, các loại thị trường từng bước được xây dựng, phát triển, vừa tuân theo quy luật của kinh tế thị trường vừa bảo đảm tính định hướng xã hội chủ nghĩa.

- Xác định quyền của người sở hữu, quyền của người sử dụng tư liệu sản xuất và quyền quản lý của nhà nước trong việc quản lý kinh tế, bảo đảm cho mọi tư liệu sản xuất đều có quyền làm chủ, mọi đơn vị kinh tế đều tự chủ, tự chịu trách nhiệm về kết quả kinh doanh của mình.

- Quan hệ phân phối bảo đảm công bằng và tạo động lực cho phát triển; các nguồn lực đều được phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế xã hội, và theo nguyên tắc thị trường.Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội.

- Nhà nước quản lý nền kinh tế, định hướng, điều tiết, thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội bằng pháp luật chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, chính sách và lực lượng vật chất.

Về phát triển kinh tế là nhiệm vụ trung tâm, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước gắn với phát triển kinh tế tri thức, đã nêu rõ các nội dung:

- Xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, hiện đại, có hiệu quả và bền vững, gắn kết chặt chẽ công nghiệp, nông nghiệp, dịch vụ. Thường xuyên coi trọng phát triển công nghiệp nặng; công nghiệp chế tạo; phát triển nông, lâm, ngư nghiệp ngày càng đạt trình độ công nghệ cao, chất lượng cao gắn với công nghiệp chế biến và xây dựng nông thôn mới.

- Bảo đảm phát triển hài hòa giữa các vùng; thúc đẩy phát triển nhanh các vùng kinh tế trọng điểm, đồng thời tạo điều kiện phát triển các vùng có nhiều khó khăn.

- Xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, đồng thời tích cực, chủ động hội nhập kinh tế quốc tế.

Phù hợp với Dự thảo Cương lĩnh (bổ sung và phát triển), dự thảo Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 trình Đại hội XI cũng khẳng định rằng Phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất với trình độ khoa học, công nghệ ngày càng cao đồng thời hoàn thiện quan hệ sản xuất và thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một trong năm quan điểm phát triển quan trọng nhất của Chiến lược. Quan điểm này nhấn mạnh: "Phải tháo gỡ mọi cản trở, tạo mọi điều kiện thuận lợi để giải phóng và phát triển mạnh mẽ lực lượng sản xuất, đẩy mạnh ứng dụng khoa học công nghệ, huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển. Phát triển nhanh, hài hòa các thành phần kinh tế và các loại hình doanh nghiệp (nội dung cụ thể xin không trích dẫn ở đây - Tg)... Tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch. Phát triển đồng bộ, hoàn chỉnh và ngày càng hiện đại các loại thị trường. Tiếp tục hoàn thiện cơ chế quản lý và phân phối, bảo đảm công bằng lợi ích, tạo động lực thúc đẩy kinh tế xã hội".

Về xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ ngày càng cao trong điều kiện hội nhập kinh tế ngày càng sâu rộng, Chiến lược cũng nêu rõ: "Phát huy nội lực và sức mạnh dân tộc là yếu tố quyết định, đồng thời tranh thủ ngoại lực và sức mạnh thời đại là yếu tố quan trọng để phát triển nhanh, bền vững và xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ. Phải không ngừng tăng cường tiềm lực kinh tế và sức mạnh tổng hợp của đất nước để chủ động, tích cực hội nhập quốc tế sâu rộng và có hiệu quả... Phát triển lực lượng doanh nghiệp trong nước với nhiều thương hiệu mạnh, có sức cạnh tranh cao để làm chủ thị trường trong nước, mở rộng thị trường ngoài nước, góp phần bảo đảm độc lập tự chủ của nền kinh tế. Trong hội nhập quốc tế, phải luôn chủ động thích ứng với những thay đổi của tình hình, bảo đảm hiệu quả và lợi ích quốc gia".

Qua những nội dung cơ bản đã trình bày và được tìm hiểu như trên, phải chăng mô hình kinh tế tổng quát trong thời kỳ quá độ mà chúng ta lựa chọn là một mô hình cho phép phát triển nhanh và bền vững lực lượng sản xuất theo hướng hiện đại đồng thời xây dựng quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất ấy?

Nếu cần nêu thành công thức, phải chăng đó là:

Mô hình kinh tế tổng quát = công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với kinh tế tri thức + phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

Hoặc:

Mô hình kinh tế tổng quát = kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa + công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với kinh tế tri thức.

Hoặc nói rộng hơn, đó cũng có thể là:

Mô hình kinh tế tổng quát = công nghiệp hóa, hiện đại hóa gắn với kinh tế tri thức + phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa + xây dựng kinh tế độc lập tự chủ trong hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng.

Mô hình này có vẻ như không giống ai trong thiên hạ. Thật ra nó được hình thành từ thực tiễn Việt Nam nhưng đã tiếp thu có chọn lọc tinh hoa mô hình phát triển của nhiều nước khác, nhất là trong việc tổ chức các hình thức kinh doanh, tổ chức kinh tế và trong phương pháp quản lý hiện đại, có hiệu quả. Song đó là mô hình phù hợp với điều kiện và đặc điểm Việt Nam trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. Mô hình không phải là cái khung nhất thành bất biến. Nó sẽ được điều chỉnh, bổ sung và phát triển cùng với bước tiến lên của sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của chúng ta.

Tháng 9-2010 HÀ ĐĂNG

Tin mới