Minh họa của họa sĩ Nguyễn Khánh Toàn. (LĐCT) -
Nhiều năm gần đây, truyện ngắn của Xuân Cang thường gắn bó về vùng quê của mình, dù là người đã đi qua bao miền đất suốt hai cuộc kháng chiến, giờ đã có tuổi - nhưng rất còn phong độ - ông vẫn nay ở Nam, mai ra Bắc, chưa biết ngày nào định cư. Có lẽ vì thế người ta càng khôn nguôi nhớ về nguồn cội, về quê hương.
Y Trang
Hôm nay hăm chín tết. Tôi giao trụ sở ủy ban cho cô phó chủ tịch, dành một nửa ngày cho tôi. Tôi bảo thằng Mẩy: Bố cấm con động vào vườn quả, mày động vào tao cắt cái hè Sầm Sơn, bảo trước cho mà biết. Chả là tôi hứa với nó hễ ngoan ngoãn chịu khó học hành, hè này tôi cho đi Sầm Sơn cho biết thế nào là biển. Nó biết tính tôi, quân lệnh như sơn, đã nói không đùa.
Nhà văn Xuân Cang
Sinh năm 1932
Quê: Xã Phú Thị - Gia Lâm - Hà Nội
Nghề nghiệp: Công nhân, cán bộ Công đoàn, nhà văn.
Tác phẩm đã in: 4 tập truyện ngắn và vừa, 2 hồi ký, 7 tiểu thuyết.
Nguyên Tổng biên tập báo Lao Động
Nguyên Chủ tịch Hội đồng Văn học về công nhân.
Từ lâu, tôi đã dự tính có một buổi như buổi hôm nay, tự mình hái quả trong vườn, tự mình bày mâm ngũ quả đầu tiên đón năm mới. Đây là một niềm sung sướng tôi đã chăm chút, nâng niu đón đợi từ lâu, chỉ rình đến hôm nay; nó vừa có cái hồi hộp, vừa có cái thiêng liêng lạ lùng, đã tưởng tượng từ lâu mà vẫn không biết nó như thế nào. Quả là như thế. Đây không phải mâm ngũ quả đầu tiên của một năm, năm nào mà chả thế, có năm nào không đến tay tôi bày mâm ngũ quả.
Giá có năm nào lười, giả vờ bảo tôi bận đi họp dân quân phân công trực ngày tết, mẹ nó hộ một tay, thì "mẹ nó" lườm một cái rõ dài, giẫy nẩy lên mà nói: "Tôi chịu thôi, đấy là việc của đàn ông". Không, mâm quả này khác, không giống như mọi năm, tôi gọi đây là mâm ngũ quả đầu tiên của đời người.
Cái gì cũng có đầu đuôi của nó.
Làng tôi vốn gọi là Thảo Điền, ruộng cỏ, là vùng đồng úng quanh năm, cỏ năn cỏ lác nhiều hơn lúa má. "Đồng trắng nước trong", "Sống ngâm da chết ngâm xương", "Chiêm khê mùa thối", là những câu ca xuất phát từ nơi đây. Trong cái vùng đồng quanh năm trắng nước ấy, làng tôi lại là cái rốn nước, các cụ xưa gọi là xóm Cồn Thoi, là chỗ cao ráo nhất hình thoi, chen chúc những nhà là nhà. Ra khỏi xóm là nước. Bọn trẻ chúng tôi lớn lên trong những trò chơi vầy nước, dầm nước, "thả đỉa, ba ba, chớ bắt đàn bà, phải tội đàn ông...".
Một nửa năm trời đi lại bằng thuyền, đám cưới rước dâu bằng thuyền, đám ma chở áo quan bằng thuyền. Tôi nhớ năm bà nội tôi mất, mả trên gò, mà cha tôi, chú tôi phải lấy cây dìm áo quan xuống nước mới chèn đất lên được. Những năm gọi là "đổi mới", trong làng cũng có một hai cái nhà tầng mọc lên, nhưng tên các chủ nhân đều gắn với chữ Đức, nhà Lẫm-Đức, nhà Kình-Đức, là những nhà có con đi Đức mới có tiền xây nhà. Quả thật, bọn trẻ không ra khỏi làng thì không đứa nào mở mày mở mặt lên được.
Nhưng cái số tôi không ra khỏi làng được. Mười bảy tuổi vào Đoàn, mười chín tuổi đã làm bí thư, hai năm sau nữa làm đội trưởng dân quân, việc gì cũng đến tay. Chỉ được ra khỏi làng có hai lần, đi thật xa, một lần lên Lào Cai, một lần vào Tây nguyên, không phải du lịch mà đi tìm rước hài cốt mấy thằng bạn liệt sĩ. Vinh quang thay cho chúng nó mà cũng khốn khổ thay cho vong hồn chúng nó, mộ đang chôn trên núi cao, nay về quê nằm trong nghĩa trang đồng nước, có tháng bảy phải đi thuyền vào đặt vòng hoa, thắp hương, tại đây chỉ cái đài liệt sĩ là không ngập nước.
123 Truyện ngắn của Xuân Cang