Liên quan đến vụ án Nguyễn Đức Kiên và đồng bọn phạm tội... xảy ra tại Ngân hàng TMCP Á Châu (ACB)... Ông Trần Xuân Giá có cố ý làm trái về quản lí kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng? (Tiếp theo kì trước)

Báo Người cao tuổi - 10/10/2013 08:55

Viện dẫn điều luật không có hiệu lực hồi tố để làm căn cứ kết luận điều tra

Kết luận của Cơ quan Cảnh sát Điều tra (CSĐT) - Bộ Công an khẳng định ông Giá đã có hành vi: "Đồng ý với các thành viên Thường trực HĐQT Ngân hàng ACB ra chủ trương cấp cho Công ty TNHH Chứng khoán ACB, là công ty do Ngân hàng ACB sở hữu 100% vốn điều lệ đầu tư cổ phiếu Ngân hàng ACB và trực tiếp chỉ đạo việc cấp vốn cho Công ty ACBS".

Cơ quan CSĐT viện dẫn khá "thuyết phục" các điều luật mà ông Giá đã cố ý làm trái. Đó là: Điều 126 Luật Các tổ chức tín dụng 2010 quy định: "Tổ chức tín dụng không được cấp tín dụng cho doanh nghiệp trong lĩnh vực kinh doanh chứng khoán mà tổ chức tín dụng nắm quyền kiểm soát". Điều 29 quyết định số 27/2007/QĐ-BTC ra ngày 24/4/2007 của Bộ Tài chính: "Công ty chứng khoán không được đầu tư vào cổ phiếu hoặc góp vốn của công ty sở hữu trên 50% vốn điều lệ của công ty chứng khoán".

Khoản 2 Điều 66 Bộ luật TTHS về đánh giá chứng cứ quy định: "Điều tra viên, kiểm sát viên, thẩm phán và hội thẩm xác định và đánh giá chứng cứ với đầy đủ tinh thần trách nhiệm, sau khi nghiên cứu một cách tổng hợp, khách quan, toàn diện và đầy đủ tất cả tình tiết vụ án". Với tinh thần phải tuân thủ theo khoản 2 Điều 66 Bộ luật TTHS, căn cứ vào toàn bộ các tình tiết của vụ án, có nhiều điểm cho thấy việc kết luận ông Giá phạm tội ở hành vi này không có cơ sở, bởi:

- Với tư cách là Chủ tịch HĐQT, ông Giá đã chủ trì cuộc họp thường trực HĐQT ngày 2/11/2009 đề ra chủ trương: "Thường trực HĐQT chấp thuận hạn mức 700 tỉ đồng cho Hội đồng Đầu tư (của Ngân hàng ACB) mua một số ít cổ phiếu có giá tốt và tính thanh khoản cao và ủy quyền cho ông Nguyễn Đức Kiên, Chủ tịch Hội đồng Đầu tư chỉ đạo trực tiếp việc đầu tư này". Việc chấp thuận hạn mức vốn đầu tư cấp cho Hội đồng Đầu tư nội bộ thuộc thẩm quyền của HĐQT và nội dung này hoàn toàn không trái luật;

- Ông Giá không chỉ đạo cấp tín dụng cho Công ty ACBS và thực tế ACB cũng không cấp tín dụng cho Công ty ACBS;

- Ông Giá cũng không thể chỉ đạo đầu tư vào loại cổ phiếu cụ thể nào vì đó là công việc điều hành kinh doanh hằng ngày tùy thuộc vào diễn biến của thị trường, hiệu quả và các quy định của Nhà nước.

- Luật Các tổ chức tín dụng 1997 có hiệu lực tại thời điểm đó không cấm, không quy định rằng: "Tổ chức tín dụng không được cấp tín dụng cho doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh chứng khoán mà tổ chức tín dụng nắm quyền kiểm soát". Do đó có thể nói rằng: Không có hành vi cố ý làm trái các quy định về quản lí kinh tế; nhất là quy kết cho hành vi trên vào thời điểm 2009 là trái pháp luật không có hiệu lực hồi tố.

Như vậy khi luật không cấm, các văn bản dưới luật không quy định, không điều chỉnh thì các tổ chức tín dụng (TCTD) có quyền làm mà không bị coi là cố ý làm trái luật. Đã không có hành vi làm trái thì đương nhiên không có tội phạm xảy ra, càng không thể truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người không có hành vi này. Rõ ràng về phương diện điều tra, Cơ quan CSĐT phải viện dẫn đúng được điều luật cụ thể nào về quản lí kinh tế mà việc làm của ông Giá đã vi phạm, làm trái, làm ngược lại, làm không đúng với nội dung điều luật đó. Nhưng bản kết luận điều tra đã không chỉ ra được và chỉ ra đúng điều luật nên người bị quy kết chưa "tâm phục khẩu phục" và về tố tụng, VKS sẽ khó truy tố, buộc tội, Tòa án sẽ khó lòng ra một bản án có tội đối với ông Giá.

Bản kết luận điều tra cũng khẳng định ông Giá đã gây thiệt hại cho Ngân hàng ACB: 688.474.784.540 đồng. Tại trang 14 bản kết luận điều tra cho rằng hành vi đồng ý ra chủ trương cấp hạn mức cho Hội đồng Đầu tư mua cổ phiếu của ông Trần Xuân Giá "gây thiệt hại cho Ngân hàng ACB là 688.474.784.540 đồng" bao gồm 2 khoản: (a) 74.038.179.048 đồng và (b) 614.436.605.492 đồng. Tuy nhiên, nếu xem xét kĩ các lí giải tại bản kết luận điều tra về thiệt hại thì không có cơ sở để coi 2 khoản này là thiệt hại đối với Ngân hàng ACB.

Về khoản 74.038.179.048 đồng: Cơ quan CSĐT tính toán bằng cách so sánh số tiền lãi mà Ngân hàng ACB thu được từ Ngân hàng Kienlongbank và Ngân hàng Vietbank với số tiền lãi trái phiếu mà 3 công ty (ACBS, Công ty ACI và Công ty ACI-HN) phải trả cho Ngân hàng Kienlongbank và Ngân hàng Vietbank. Theo Cơ quan CSĐT, vì số tiền lãi Ngân hàng ACB thu về nhỏ hơn số tiền lãi 3 công ty kia phải bỏ ra là 74.038.179.048 đồng nên là thiệt hại. Nói cách khác, nếu 3 công ty kia trực tiếp huy động tín dụng từ Ngân hàng ACB thì sẽ "giảm thiệt hại" được 74.038.179.048 đồng. Cách lập luận này là khiên cưỡng, áp đặt chủ quan, vô lí bởi lẽ:

- Ngân hàng ACB không được phép cấp tín dụng cho Công ty ACBS nên sự so sánh giữa lãi suất cho vay liên ngân hàng của Ngân hàng ACB với lãi suất huy động vốn bằng phát hành trái phiếu của Công ty ACBS là khập khiễng.

- Ngân hàng ACB đã tuân thủ pháp luật khi không cấp tín dụng cho Công ty ACBS nên không có sự "thiệt hại" nêu trên.

- Cả 3 công ty ACBS, ACI và ACI-HN đều là những pháp nhân, họ có quyền tự quyết định trong kinh doanh (huy động vốn từ nguồn nào, lãi suất bao nhiêu).

Bộ trưởng - Đặc phái viên Chủ tịch nước Trần Xuân Giá đi thăm và mời Quốc vương
Bru-nây sang thăm Việt Nam. (5/1998)
Về khoản tiền thứ hai (614.436.605.492 đồng) cũng đang bị Cơ quan CSĐT cho là thiệt hại là số tiền chênh lệch giữa khoản tiền hợp tác đầu tư đã thanh lí giữa Công ty ACBS và 2 công ty ACI, ACI-HN trong khi 2 công ty này phải hoàn trả cho Công ty ACBS so với giá trị cổ phiếu mà 2 công ty ACI, ACI-HN còn nắm giữ, tương tự với khoản "thiệt hại" thứ nhất (74.038.179.048 đồng), không thể coi là có khoản thiệt hại thứ hai này bởi lẽ:

- Giao dịch hợp tác đầu tư giữa Công ty ACBS và các công ty ACI, ACI-HN (mà Cơ quan CSĐT cho rằng ông Giá phải chịu trách nhiệm) đã được thanh lí xong từ ngày 28/6/2010 và 30/6/2010 với thỏa thuận là các công ty ACI, ACI-HN sẽ hoàn trả lại tiền hợp tác đầu tư cho Công ty ACBS và tiếp tục sở hữu các cổ phần mua trong quá trình hợp tác đầu tư.

- Sau khi hợp đồng hợp tác đầu tư được thanh lí, các công ty ACI, ACI-HN có toàn quyền quyết định và chịu trách nhiệm về việc sử dụng các cổ phiếu đó.

- Cả hai công ty ACI và ACI-HN là pháp nhân độc lập, kể cả về mặt tài chính đối với Ngân hàng ACB. Việc lỗ lãi trong kết quả kinh doanh của họ không liên quan đến Ngân hàng ACB và không thể coi là thiệt hại của Ngân hàng ACB.

Dựa trên bản kết luận điều tra thì rõ ràng là không có hậu quả thiệt hại nào từ hành vi của ông Giá.

Mặt khác, căn cứ vào đâu mà Cơ quan CSĐT lại tính được mức độ về hậu quả tác hại này, thiệt hại đó có phải do chính hành vi làm trái của ông Giá gây ra hay không? Tất cả còn phải được làm rõ và cũng chỉ sau khi có bản án có hiệu lực pháp luật mới có thể khẳng định rõ ràng. Tuy nhiên trong chừng mực nào đó với cách suy đoán của Cơ quan CSĐT thì hậu quả tác hại theo kiểu “râu bà nọ cắm cằm ông… Giá” không thể loại trừ.

Những điều luật hiện hành ở thời điểm xảy ra vụ việc minh oan cho người bị cáo buộc

Có khá nhiều văn bản pháp luật quy định về các vấn đề có liên quan đến việc làm của ông Giá, những nội dung quy định này sẽ làm cơ sở, căn cứ pháp lí để gỡ tội, xem xét, minh oan cho ông Giá, như: Điều 72 Luật TCTD 1997 quy định: "Tổ chức tín dụng được quyền ủy thác, nhận ủy thác, làm đại lí trong các lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng, kể cả việc quản lí tài sản, vốn đầu tư của tổ chức, cá nhân theo hợp đồng"; Điều 65 Luật trên cho phép tổ chức tín dụng "được mở tài khoản tiền gửi tại các tổ chức tín dụng khác"; - Điều 45 Luật này quy định: "Ngân hàng được nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân và các tổ chức tín dụng khác".

Rõ ràng Luật TCTD năm 1997 không cấm một ngân hàng (như ACB) ủy thác cho cá nhân trong một lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng như mở tài khoản tiền gửi. Ngân hàng Nhà nước cũng không có văn bản nào cấm quyền ủy thác này. Ngân hàng Nhà nước còn hướng dẫn và cho phép một tổ chức (gồm cả tổ chức tín dụng) mở tài khoản tiền gửi tại một ngân hàng thông qua người được ủy quyền và chủ tài khoản chính là người đại diện theo ủy quyền đó.

Điều lệ Ngân hàng ACB đã được Ngân hàng Nhà nước phê duyệt trên cơ sở pháp luật cũng có nội dung cho phép Ngân hàng ACB: "Được quyền ủy thác và nhận ủy thác làm đại lí trong các lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng, kể cả việc quản lí tài sản, vốn đầu tư của tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước theo hợp đồng ủy thác và đại lí". Người thực hiện hành vi không trái luật, không bị luật ngăn cấm, lại phù hợp với Điều lệ của Ngân hàng ACB, vậy thì làm sao lại quy kết người đó phạm tội?

Từ xa xưa, dân gian có câu: "Sư nói sư phải, vãi nói vãi hay". Trong hoạt động tố tụng hình sự, CQĐT thường kết luận người đã bị khởi tố là có tội; Viện Kiểm sát thường truy tố người đó theo kết luận điều tra; bị can, bị cáo thường kêu oan; luật sư bào chữa, gỡ tội. Trong vụ án này, về hành vi của ông Trần Xuân Giá đã và có thể đang còn nhiều, quan điểm xem xét, nhìn nhận, đánh giá khác nhau. Trước tình hình đó, tại sao các cơ quan có trách nhiệm không vào cuộc để xem xét, nếu đúng ông Giá không có tội thì ra quyết định đình chỉ vụ án theo luật định.

TS, Luật sư Dương Mạnh Hùng


Tin mới