Lên cao nguyên, nuôi bò làm giàu

Nhân dân - 

Len cao nguyen, nuoi bo lam giau

Ông Tế chăm sóc đàn bò sữa.

Đâu cũng là quê hương

Ngày ấy, lên đây cùng ông có đến cả mấy trăm người, chủ yếu là thanh niên Hà Tây. Thái Bình chỉ có lác đác vài người. 'Nói thật, khi ấy lên đây, tôi chỉ có một ý nghĩ đi tìm một cuộc sống mới tốt đẹp hơn chứ chả nghĩ sẽ ở lại đất này đâu!'. Ông Tế tâm sự.

Mộc Châu độ đó vắng vẻ, quạnh hiu. Những ngày gió bấc, căng mắt cũng chẳng thấy một bóng người. Cứ sau giờ làm việc ở nông trường, ông về nhà ngồi bó gối nhìn sương giăng mịt mùng. Buồn, nhớ nhà đến nẫu ruột, nẫu gan. Nỗi buồn tẻ, quạnh hiu ấy cộng với thời tiết khắc nghiệt, nhiều người đã bỏ về. Cán bộ nông trường dùng đủ mọi cách để 'giữ' chân người, thế nhưng những cuộc chia tay vẫn cứ đều đặn diễn ra.

Trai quê lúa vốn dĩ cần cù, thêm nữa, trốn nỗi nhớ nhà, ông lao vào công việc. Thấy ông cần mẫn, chăm chỉ, nông trường đã trao cho ông một phần thưởng bất ngờ ấy là điền tên ông vào danh sách những công nhân được cử đi học lớp Chăn nuôi ở Sông Bôi, Hòa Bình. Khóa học kéo dài ba năm. Sau khóa học ấy, trở lại nông trường, ông Tế được phân làm Trại trưởng Trại Vườn Đào. Khi ấy, trại có 30 công nhân, nuôi bò trên diện tích 62 ha. Gọi là trại trưởng cho có chức vụ vậy thôi chứ ngày ấy anh em công nhân nông trường đâu có phân biệt. Nghề nuôi bò sữa như chăm con mọn, ai cũng như ai, đầu tắt mặt tối, lấm lem bùn đất cả ngày. Thêm nữa, khi ấy chưa chia tách, nông trường Mộc Châu có hai lĩnh vực sản xuất là nuôi bò lấy sữa và trồng chè. Công nghệ chăn nuôi lạc hậu, cách quản lý theo kiểu 'báo cáo sổ sách' nên 'nghề bò sữa' lép vế hoàn toàn so với 'nghề chè'. Để lay lắt tồn tại, nông trường đã phải sống dựa vào cây chè, còn bò sữa chỉ nuôi cho có. Do vậy, khi đó trại trưởng hay công nhân cũng đều giống nhau. Giống nhau ở sự khổ, ở sự thiếu thốn, ở những bữa cơm ăn chỉ thấy vàng rặt những ngô. Gắn bó mãi thì đất lạ hóa quen.

Làm giàu từ đất cằn sỏi đá

Mấy chục năm lăn lộn với bò sữa, tuy là trại trưởng nhưng đời sống của gia đình ông Tế vẫn khó khăn, vất vả như bao hộ gia đình khác ở nông trường này. Loay hoay đủ cách, nghề nuôi bò sữa cũng chả phất lên được. Lẽ nào mình phải bỏ nghề mà gần tròn chục năm trời mình khó nhọc theo đuổi? Ông kể, nếu không có một sự kiện hệ trọng diễn ra vào thời gian ấy thì có lẽ ông đã không chung thủy với nghề. Năm 1988, ông Tế vinh dự được kết nạp Đảng. Đứng trong hàng ngũ những người con ưu tú của nông trường, ông trình bày mong muốn triển khai mô hình khoán bò cho công nhân viên đến lãnh đạo nông trường. Năm 1991, chính sách chăn nuôi theo mô hình khoán hộ đã chính thức ra đời. Ông Tế xung phong đi trước mở đường xin nhận khoán những con bò vẫn cho lượng sữa thấp nhất, kém chất lượng nhất. Chăm chỉ làm việc, rồi những chú bò đói ngày nào đã có da có thịt, mỗi ngày một mũm mĩm, mượt mà. Chăm sóc tốt, lại sẵn có kinh nghiệm, sản lượng sữa của chúng tăng nhanh. Ngay vụ sữa đầu tiên, đàn bò của gia đình ông dẫn đầu các hộ nuôi ở Vườn Đào cả về sản lượng cũng như chất lượng sữa. Thấy ông làm được, nhiều hộ dân còn bỡ ngỡ trước cách làm mới đã học theo.

Dẫn chúng tôi đi thăm trang trại bò, ông Tế cho biết, hiện tại, đàn bò của ông đã lên tới 40 con. Năm ngoái, chúng cho gia đình ông một khoản thu là 1,5 tỷ đồng. Năm nay, ông đặt mục tiêu thu nhập 2 tỷ đồng.

Bây giờ, người nuôi bò sữa ở Mộc Châu đã có một cuộc sống ấm no hơn. Trở thành chủ trang trại lớn, ông Tế có điều kiện giúp người chăn nuôi trong vùng về vốn, kỹ thuật. 'Bao năm vất vả với bò rồi, nay bà con mới được hưởng nguồn sữa ngọt. Nhưng chúng tôi vẫn còn phải cố gắng cải tạo chất lượng đàn bò, nâng cao năng suất sữa, vì thương hiệu bò sữa Mộc Châu, vì cuộc sống của những con em sinh ra trên chính cao nguyên này'.

Tin mới