Đồng bằng Bắc Bộ không chỉ là vựa lúa mà còn là một vùng văn hóa đặc sắc. Đông là vùng Kinh Bắc, Hải Dương, Hưng Yên nổi tiếng về chùa chiền. Đoài (phía tây) là xứ Đoài gồm Hà Đông và Sơn Tây nổi tiếng về đình. Đông Đoài như hai vế đối, là cái rốn văn hóa của miền Bắc.
Tháng hai Đông, là tháng có các lễ hội nổi tiếng vùng Kinh Bắc, nhất là các hội chùa. Tháng ba, hội tập trung ở Đoài, và tháng tư thì hội lễ trôi về vùng Thái Bình, Hải Phòng, Quảng Ninh.
Hội lễ rải ra thế để người ta còn đi giao lưu. Văn hóa Bắc Bộ vì thế mà quấn quít trong việc thăm viếng bồi bổ cho nhau thêm đậm đà, giàu có thêm tinh thần văn hóa làng quê.
Thời bà tôi, có người thông thạo hết các hội trong vùng là vì thế. Công việc bận rộn cả năm nhưng không thể không đi các hội.
Càng nể các cụ khi chỉ có đôi chân dận bộ và tấm lòng thành kính mà vãn cảnh đình chùa hết xuân sang hè.
Lúc ấy bà tôi đã rất già. Vào ngày đầu xuân, tôi ngồi cùng bà, bỗng nghe tiếng trống hội vật thúc phía đầu làng. Bà nói với cháu như tự nói với mình: Hồi bà mới về làm dâu, cứ nghe tiếng trống hội là lòng ngao ngán.
Sao thế hả bà? Chả là lúc đó còn trẻ, bố chồng sợ con dâu ham hội bỏ việc, lại còn sợ quen chân đi hội rồi dễ mắc vào chuyện trai gái. Nên bà nhớ hội lắm, lúc nào cũng nhớ. Nói đến đây bà lặng im, đôi mắt mờ đục xa xăm.
2. Lễ hội, đó là văn hóa làng xã. Lễ hội là cái giữ cho làng quê yên bình. Năm trước về hội chùa làng, ghé vào hậu chùa buổi đêm thấy các bà các chị đi hội, cơm nắm muối vừng rải lá chuối, xắt ra bỏm bẻm nhai, cùng câu chuyện quê mình cho người bên cạnh nghe.
Nào tay nải gối đầu, nằm túm tụm trên những chiếc chiếu hoa rải xuống nền nhà, chập chờn qua đêm. Nào có thấy ai ngủ. Các bà thao thức kể chuyện gia cảnh, cửa nhà, chuyện chồng con dâu rể. Rồi lan man sang chuyện lời ca câu hát.
Một bà già hát cho bạn hội nghe bài hát về một trăm loại cỏ. Bà kể, có năm bà cùng nàng dâu đi hội đình Đông Hồ. Hai mẹ con hát tiến, mẹ đóng vai chủ nhà, con dâu đóng vai đứa ở chăn ngựa. Như thế để có cớ kể về các loại cỏ. Quê bà đâu như ở Bắc Giang...
Thì ra ngày trước đi hội là vậy. Đâu chỉ có rước xách, cúng lễ, xem chỗ nọ ngó chỗ kia. Đi hội còn là để giao lưu giải tỏa.
Cách đi hội của một lớp người nhà quê chân đất thời ấy đậm đà mà thực tế. Sau đi hội về, thêm bao nhiêu hiểu biết về những nơi mình chưa kịp đến.
Đi hội bằng tai cũng giúp cho họ kiến thức cuộc sống và hiểu biết về lễ nghĩa ứng xử trong gia đình bằng trò chuyện bảo ban nhau, tranh luận trong những đêm trắng nhà chùa.
Cứ tưởng giao lưu là của thế hệ đương đại đẻ ra. Không, đi hội là đi học. Các cụ nhà ta làm việc đó từ hồi nảo nào rồi.
Bây giờ tinh thần đến hội nông toen hoẻn. Một là cắm cúi cúng lễ cầu tài cầu lộc. Hai là lớt phớt cho có không khí rồi tìm hàng quà xả láng. Hội bây giờ rầm rộ nhưng lờ nhờ, chất lượng chuyển sang buôn bán cả nghĩa bóng lẫn nghĩa đen.
Tôi da diết nhớ bà. Bà theo tổ tiên từ lâu. Nhưng đến hôm nay đứa cháu mới hiểu cái hay của hội lễ một thời.