- Thượng viện Nhật Bản đang bàn bạc về việc sẽ nghiêm cấm thu tiền bảo lãnh của các thực tập sinh (lao động) sang Nhật làm việc. Nếu việc này được quyết định, thì lao động sẽ được hưởng lợi còn doanh nghiệp xuất khẩu lao động lại… kêu trời.
Lao động bớt chi phí
Lý do để Thượng viện Nhật Bản bàn tới chuyện này là do đa số doanh nghiệp Việt Nam đưa lao động sang Nhật theo chương trình tu nghiệp sinh vẫn thu khoản tiền bảo lãnh hợp đồng của người lao động với mức 2.000- 3.000 USD/người.
Ông Shotaro Tochigi Chủ tịch Tổ chức Hợp tác quốc tế tu nghiệp Nhật Bản (Jitco) cho biết: Khoản thu bảo lãnh hợp đồng của người lao động với mức 2.000 – 3.000 USD/ người là quá cao. Việc này tạo thêm gánh nặng cho lao động nghèo sang Nhật học việc.
Ngoài lý do trên, sở dĩ Thượng viện Nhật Bản phải bàn tới chuyện này vì tại Nhật có nhiều ý kiến cho rằng do phải đặt cọc tiền bảo lãnh hợp đồng nên chi phí trước khi đi của lao động Việt Nam rất cao. Điều này khiến người lao động Việt Nam bỏ trốn khỏi chương trình tu nghiệp, sống bất hợp pháp, tìm kiếm cơ hội việc làm có lương cao hơn để trả nợ.
Trong thực tế, chi phí bão lãnh hợp đồng đối với lao động đi Nhật tại nước ta đang bị lạm thu. Mỗi lao động khi trúng tuyển sang Nhật Bản làm việc, thường phải chi khoản tiền đặt cọc từ 5.000- 7.000 USD/người, có doanh nghiệp đã thu tới mức 12.000 USD/người. Cộng thêm với chi phí trước khi đi từ khoảng 2.000- 4.000 USD/người, nên để được sang Nhật làm việc dưới hình thức tu nghiệp sinh, người lao động thường phải chi phí xấp xỉ 10.000- 15.000 USD/người.
Chính vì vậy, nếu việc thu khoản tiền này bị cấm và được kiểm soát chặt chẽ, thì rõ ràng người lao động sẽ đỡ gánh nặng chi phí trước khi đi và thị trường lao động Nhật Bản sẽ không còn là thị trường chỉ dành cho những lao động nhà giàu như hiện nay.
Doanh nghiệp lo chống trốn
Ông Lê Mai An, Phó Giám đốc Công ty cổ phần XNK VTTB đường sắt (Virasimex) cho biết: “Chúng tôi chưa nhận được thông tin chính thức về vấn đề doanh nghiệp không được thu phí đặt cọc, nhưng mục đích của doanh nghiệp thu tiền đặt cọc chỉ để cho lao động sang Nhật không bỏ trốn, bởi nếu lao động bỏ trốn doanh nghiệp ngoài bị phạt tiền còn bị mất đối tác”.
Cùng chung quan điểm với ông An, ông Đoàn Đại Thành, Giám đốc Công ty Cung ứng nhân lực quốc tế và Thương mại (SoNa) cũng cho biết: “Nếu không có khoản tiền đặt cọc, người lao động không có ràng buộc nên sang đến nơi họ có thể bỏ trốn ra ngoài khiến công ty phải bồi thường cho đối tác. Điều này gây tổn thất cho công ty”.
Với mỗi lao động đi Nhật hợp đồng 3 năm, doanh nghiệp được phép thu tối đa 3.000 USD/người tiền phí quản lý. Trong khi chỉ cần 1 lao động bỏ trốn doanh nghiệp có quyền trừ ngay tiền đặt cọc. Bởi vậy, khoản tiền đặt cọc này tồn tại chưa hẳn đã tốt cho mục đích chống lao động bỏ trốn mà còn có tác dụng ngược khiến lao động bỏ trốn nhiều hơn để có tiền bù khoản tiền đặt cọc.
Từ xưa tới nay tất cả các doanh nghiệp đưa lao động sang Nhật Bản đều thu khoản tiền này. Mặc dù luật pháp đã quy định chế tài xử lý lao động bỏ trốn như: bị xử phạt hành chính, cấm xuất cảnh 5 năm, thậm chí có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng tới nay chưa xử lý được trường hợp nào.
Trong khi đó, tỷ lệ lao động Việt Nam bỏ trốn tại thị trường Nhật Bản luôn cao nhất trong các nước có lao động tại đây.
Trao đổi với VietNamNet về vấn đề này, ông Đào Công Hải, Phó Cục trưởng Cục quản lý lao động ngoài nước (Bộ LĐTB&XH) cho biết: "Mục tiêu của tiền đặt cọc là để yêu cầu lao động sang Nhật thực hiện đúng hợp đồng chứ không được bỏ ra ngoài sống bất hợp pháp. Trước đây chủ sử dụng lao động bên Nhật yêu cầu các công ty phái cử của Việt Nam đề nghị người lao động phải có đặt cọc và nếu lao động thực hiện đúng hợp đồng ký kết ban đầu, khi về nước lao động sẽ được nhận lại khoản tiền đặt cọc trước khi đi".
Tuy nhiên, ông Hải thừa nhận một thực tế: Dù lao động có phải đặt cọc hay không đặt cọc thì lao động sang Nhật có điều kiện trốn ra ngoài họ vẫn trốn vì nếu ra ngoài làm được một năm lương sẽ cao gấp mấy lần số tiền đặt cọc ban đầu.
Rõ ràng lao động bỏ trốn có gây thiệt hại cho doanh nghiệp. Những doanh nghiệp có lao động bỏ trốn ngoài việc phải nộp phạt cho phía đối tác Nhật Bản còn bị hạn chế tiếp nhận lao động. Như vậy chỉ còn cách thực hiện nghiêm túc các chế tài xử lý lao động bỏ trốn, nhưng thực tế doanh nghiệp nào cũng hiểu nó chưa hẳn đã dễ thực hiện như quy định.
