Nghiêm chỉnh mà nói không khéo mình còn là thằng bé tính nết có phần nhăng nhố là đằng khác. Vậy thì có gì để mà phải hồi hộp nhỉ? Hồi hộp là bởi tuy đã ngoài hai chục tuổi, đã có mấy tuổi quân mà vẫn chưa biết hát cho trọn một bài hát nào. Có thiếu gì bài hát hay trên đời này, ấy vậy mà bài nào cũng chỉ ư ử vài ba câu, trừ bài Quốc ca. Bài ấy thì thuộc mà lại thích. Vậy là sắp được gặp tác giả Quốc ca, bài Quốc ca đầu tiên của đất nước, lần đầu tiên dân tộc đã đứng dậy cùng hát bài đó trong cuộc trường chinh giành độc lập và tự do. Sôi sục và hào hứng lắm chứ, ý nghĩa to lớn lắm chứ.
Còn một lẽ nữa khiến tôi hồi hộp, tôi rời làng quê ở bên kia sông Cầu sang sống ở thị xã Bắc Ninh từ năm lên mười. Tôi thường hay mò ra cái thư viện thị xã lúc đó còn là mấy gian nhà lá gồi. Tại đấy tôi đã thuộc những câu thơ của Văn Cao: “Sinh tôi ra đã có Hải Phòng, đầu nhà mới trồng cây mận”. Chỉ thấy là hay quá. “Đêm đêm cầu nguyện bên đèn, chưa thấy ngày mai hửng sáng, chỉ thấy những xác thiêu thân, chết trên mặt bìa những cuốn sách kinh, những pho tượng không bao giờ nói, hai con mắt nhìn an ủi…”.
Người như ông ấy là hiếm lắm, tài năng đã là hiếm mà cái tình với dân với nước, với cách mạng cũng là hiếm. Cứ nghe những bài hát, đọc những vần thơ cũng đủ biết.
Đêm ấy Hà Nội yên tĩnh và rất rét. Anh Liên mặc áo vét quấn khăn len, tôi đánh một đôi giày lính lộp cộp và mang áo trấn thủ. Dọc các phố thơm mùi hoa sữa, quanh bờ hồ Thiền Quang lá vàng xào xạc. Đoàn quân ba lô trên vai thấp thoáng đi trên đường, bóng họ lướt đi vội vã.
Có một bà mẹ vai mang tay nải lẽo đẽo bước theo tiễn chân một người con. Anh Liên khẽ kéo tay tôi dừng lại. Đoàn quân rất dài, họ đi hướng Giáp Bát. Rồi anh bình luận: “Hà Nội đấy. Hồi Điện Biên cũng đã có một lớp như thế, trở về rất ít. Dạo đó, anh Hiến và anh Bích đã vẽ một tấm pano gọi địch ra hàng đặt sát vào hàng rào bản Kéo”. Cái Huy hiệu kỷ niệm chiến thắng Điện Biên cũng là của họ vẽ. Anh không được lên Điện Biên phải ở lại trực cơ quan, ở nhà vẽ một bức Bác Hồ với chiến sĩ trẻ bằng chì.
Hà Nội vào đông, gió tơi bời. Phải đến mùa hạ năm sau, quả bom đầu tiên ném xuống phố Huế, còn lúc chiến tranh mới chỉ ầm ì dọc miền Trung, nhất là ở Vĩnh Linh, Quảng Bình, nơi người Mỹ gọi là vùng cán xoong.
Tôi theo anh Liên leo qua một cái cầu thang cuốn tròn, không cao lắm. Vòm cửa rộng tỏa đầy ánh sáng. Vừa bước vào nhà anh đã chỉ vào tôi và nói to:
- Thằng này vừa có một tập truyện ngắn, tôi vẽ bìa cho nó đấy các ông các bà nhé.
- Ai vậy, trẻ gớm nhỉ.
- Đỗ Chu.
- À, mình có đọc ở đâu đó rồi, dân Kinh Bắc, nghe nói thế. Bên ấy rượu ngon lắm, mình rất thích rượu Đình Bảng.
Rồi người đó đưa tay ra bắt tay tôi. Một bàn tay mềm mại với những ngón dài. Đấy chính là Văn Cao. Ngồi cạnh ông tất nhiên là bà Băng, người vợ quyết liệt, đầy tinh thần chiến đấu của ông, suốt đời bà đã lo toan tận tụy cho chồng cho con. Cạnh bà Băng là bà Quách Thị Hồ. Bà Băng năm ấy còn đang trẻ trung cười nói tươi sáng lắm. Còn bà Hồ thì tóc đã bạc trắng nhưng giọng nói vẫn trong vắt và đôi mắt long lanh tinh tường.
Vóc dáng bà Hồ có phần cao lớn so với sự thanh mảnh của bà Băng. Ngồi đối diện với họ phía bên này là một ông già trông buồn bã, rất ít lời, thỉnh thoảng lại máy máy đôi môi thì thầm với mình. Tôi chợt nhớ tới chân dung của Đốt-xtôi-ép-xki. Vâng, có một đôi nét phảng phất. Đấy là Bùi Xuân Phái. Ngồi cạnh ông Phái là một người đàn ông bộ dạng nom cũng không vừa, rất hay cười gằn và thoáng mỉa mai. Đó là Đặng Đình Hưng. Tôi toát cả mồ hôi khi anh Liên giới thiệu đến tên tuổi mỗi người. Họ là những danh sĩ Bắc Hà đúng với nghĩa của từ đó.
Tôi để ý thấy các họa sĩ thường gọi nhau, thường nhắc tới nhau cũng như nhắc tới các bạn hữu bằng một cái tên cộc lốc, đôi khi vui lên họ còn gọi nhau là thằng.
Mới nghe chờn chợn mà sợ lắm. Khác hẳn với các nhà văn, nhà thơ, ưa nhau, hay không ưa mặc dầu, nhưng chúng tôi thường không dám gọi như vậy. Bác Hoan, bác Hồng, bác Kim Lân, bác Tô Hoài, anh Thi, anh Chế, anh Khải, anh Châu… Đằng này thì không thế, cứ tên cúng cơm mà phang. Thằng Sáng dạo này đang làm sơn dầu lớn lắm, nó vẽ thiếu nữ Hà Nội. Thằng Phái thì vẫn cứ Phố Phái. Cũng một cách như thế, họ nói thằng Tưởng chết sớm thật tiếc, thằng Thi đang đi bộ đội, thằng Hồng nằm bẹp ở Yên Thế.
Thì đã sao, nghe mãi quen tai lại vẫn nhận ra sau những lời ấy có đầy đủ sự thân mật và quý mến. Cái tình bằng hữu anh em giữa họ đã có từ lâu - mình là một thằng nhóc con làm sao hiểu được. Chỉ biết là họ rất nể trọng nhau. Mà không giả dối khôn khéo một chút nào mới hay chứ.
Đêm ấy lần đầu tiên tôi đưa hai ngón tay đón một chén rượu cuốc lủi mà ông Văn Cao đưa cho. Nom ông vẫn đang rất nhanh nhẹn. Rồi ông đọc một bài thơ ngắn ông mới làm, bằng một giọng khàn khàn: “Có lúc một mình, một dao giữa rừng đêm không sợ hổ. Có lúc ban ngày nghe lá rụng sao hoảng hốt. Có lúc nước mắt không chảy ra ngoài được”.
Nâng chén rượu chưa nhấp lên ngang mặt, ông nhìn đăm đăm vào bức tranh đang vẽ dở đặt trên nắp đàn dương cầm ở góc phòng. Ông Phái thủng thẳng nói:
- Màu áo chàm được lắm, con ngựa cũng đẹp.
- Không phải đẹp mà nên nói là nó xinh. Thấy không, ngựa đực đấy chứ vậy mà nó xinh và đáng yêu như một cô gái. Mai tao sẽ làm xong bức này.
- Thêm một nhát vàng chanh vào chỗ cái mũ mèo kia là “phanh” được rồi.
Anh Liên nói. Ông Văn Cao gật gù tán thưởng. Rồi sau đó là bà Hồ hát ả đào. Bà cầm hai chiếc đũa gõ vào nhau lấy nhịp. Giọng bà mới sang làm sao. Chẳng trách cụ Nguyễn đã xem bà như một người bạn tri âm tri kỷ.
Tôi làm sao hiểu hết được cái hay trong giọng hát của bà, chưa bao giờ tôi được gặp bà, lại chưa bao giờ được biết tới hát ả đào là gì. Đã bảo mình hoàn toàn là một thằng bé nhà quê, một chú lính lạc vào đây. Nhưng tôi biết bà đang hát bài Tỳ bà hành của Bạch Cư Dị.
“Bến Tầm Dương canh khuya đưa khách, quạnh hơi thu lau lách đìu hiu. Cũng một lứa bên trời lận đận”.
(Còn nữa)