Những đường hầm xuyên lòng đất để hướng tới chân trời tự do ấy đã trở thành huyền thoại. Như một cơ duyên, chúng tôi tìm gặp được một trong những người có đóng góp quan trọng viết nên huyền thoại đó.
Kế hoạch táo bạo
Ông là Phạm Mạnh Hải, quê ở Hậu Lộc, Thanh Hóa, từng là cán bộ thanh niên ở nông trường Thống Nhất. Tháng 10/1966, ông nhập ngũ và chiến đấu ở chiến trường miền Đông Nam Bộ. Trong chiến dịch Mậu Thân đợt một, sư đoàn ông đánh vào sư đoàn Anh cả đỏ của Mỹ ở Hố Nai (Biên Hòa). Trên đường rút lui, ông bị một tên chiêu hồi gài bẫy rồi rơi vào tay địch. Chúng đưa ông về nhà tù Biên Hòa. Ngay tại đây, ông đã tham gia đào hầm vượt ngục. Nhưng vì chưa có kinh nghiệm, nhất là trong việc xử lý đất sau khi đào nên việc đào hầm thất bại. Sau đó, ông bị đưa ra Phú Quốc.
Trong trại B2 dành cho sĩ quan và hạ sĩ quan của ông Hải khi đó cũng lác đác có vụ phá rào vượt ngục. Nhưng sau đó, những người tù đã bị bắt trở lại và bị đánh đập rất dã man. Anh em vẫn có người rủ ông phá rào, nhưng ông Hải kiên quyết: "Không thể phá rào vượt ngục nữa. Nhất định sẽ đổ máu vô ích". Vậy chỉ còn một cách duy nhất: Đào hầm! Nhưng phương án này lại vấp phải câu hỏi như khi ông còn ở nhà tù Biên Hòa: "Đất đào xong đổ đi đâu?"
Suốt mấy ngày đêm ông Hải nằm quay mặt vào tường, bỏ cả cơm, vắt tay lên trán. Rồi một ý tưởng chợt lóe lên trong đầu: "Hố tiểu". Chỉ xin đào hố tiểu mới đổ được đất đi một cách hợp pháp. Và cùng với 9 anh em tù khác, ông bắt tay triển khai kế hoạch táo bạo và thông minh này.
Trong trại lúc bấy giờ có hai phòng dành cho người mắc bệnh lao ít bị dòm ngó nhất. Phòng 13 có khoảng 80 người, phòng 14 hầu như bỏ không. Anh em chọn ngay phòng này để đào hầm. Trưởng phòng lao lúc bấy giờ là ông Lê Sơn La (quê ở Thanh Hóa) chuyên lo "quan hệ" với bọn giám thị. Như kế hoạch, ông La lên xin đào một hố tiểu trên khoảng sân giữa phòng 13 và 14. Bọn chúng đồng ý, cấp cho cả xẻng đào và cử lính đến giám sát. Miệng hố tiểu dài 1m, rộng 2m, nhưng xuống sâu hơn, khoảng 50 phân anh em đào rộng ra theo kiểu hàm ếch. Đất lấy lên từ hố anh em khiêng ra ngoài đổ. Cái hố nhìn từ trên xuống tưởng nhỏ mà kì thực, rộng đủ để chứa từ 7- 8m3 đất.
Tính toán kĩ càng
Kĩ thuật đào đã được ông Hải nghiên cứu kĩ và rút kinh nghiệm từ hồi ở nhà tù Biên Hòa. Khi bắt đầu chỉ đào một khoảng vừa vai người chui vào, nhưng cứ được 5m anh em phải đào rộng hơn để quay vai ra. Ngoài ra, dưới hầm không có không khí và phương hướng, nên ông Hải nghĩ ra cách làm lỗ thông hơi. Miếng tôn được vạt nhọn như mũi khoan, chọc từ nóc hầm lên mặt đất tạo thành lỗ thông bằng một ngón tay. Người đào hầm ở dưới chọc một cái que có buộc vải trắng trên đầu lên, một người khác bò ra sân kiểm tra. 3 que tương ứng với 3 lỗ thông liền nhau phải thẳng hàng và hướng thẳng ra ngoài hàng rào. Nếu chệch đi, anh em sẽ phát hiện ngay và kịp thời chuyển hướng.
Mỗi đêm, một tổ 4 chiến sĩ được cử xuống hố tiểu đào đường hầm xuyên vào phòng 14. Người đào, người kéo đất ra và người ém đất vào thành hầm và đẩy đất vào hố tiểu, người kiểm tra lỗ thông hơi. Những đêm đến phiên đào, ông Hải lại chui qua hàng rào giữa các phòng, bò sang phòng 14 làm nhiệm vụ. Đất kéo ra được đựng trong những chiếc túi tự tạo, đựng khoảng 20kg đất.
Đêm đầu tiên thuận lợi vì hố còn khô ráo. Những đêm về sau, nước tiểu càng nhiều. Ông Hải kể: "Lúc nước dâng đến ngực, anh em tôi chỉ mặc độc chiếc quần lót đề chui vào đào". Lúc chui lên ai nấy bùn đất lấm lem và sặc mùi khai. Cả ngày được 1 ca nước, anh em chỉ lấy ít rửa mặt và tay, mặc áo che đi vết bùn đất dính đầy người, đêm sau chui xuống đào tiếp.
Lượng đất đùn ra hòa với nước tiểu thành bùn dâng lên gần ngập miệng hố. Bấy giờ, ông La lại được cử lên gặp giám thị Nhu, nói hố tiểu cũ đào hơi nông, xin đào hố khác. Tên giám thị khét tiếng ấy nằm mơ cũng không nghĩ mình đã mở đường cho anh em vượt ngục. Chiếc hố mới rộng và sâu hơn được đào ngay bên cạnh hố cũ sẽ là nơi chứa đất trong quá trình đào hầm tiếp theo.
Khi đó đường hầm xuyên từ hố tiểu thứ nhất vào phòng 14 đã hoàn thành. Miệng hầm nằm ngay dưới gầm giường và được ngụy trang vô cùng khéo léo. Những chiếc ván giường cắt ra, ghép lại thành chiếc máng hình chữ nhật, được đổ đầy đất, đặt làm miệng hầm. Nếu giám thị vào kiểm tra bất ngờ, đậy miệng hầm lại, xoa đất đều 4 thành gỗ là dấu vết sẽ hoàn toàn biến mất.
Đến đây anh em đào đường hầm nối từ phòng 14 ra ngoài hàng rào. Ông Hải và các anh em đã tính toán kĩ càng: Đường hầm sẽ dài khoảng 100m, chạy từ phòng 14 ra sân, qua hàng rào dây thép gai có thả ngỗng và chó, qua bãi mìn, đường ô tô và cuối cùng là vệ cỏ ven đường. Đoạn hầm dưới đường ôtô được đào thấp xuống vài mét để tránh sập đường khi ô tô chạy qua. sau 3 tháng bí mật "thi công", con đường hầm vượt ngục đã hoàn tất.
Cuộc vượt ngục lịch sử
Đêm một ngày tháng 11/1969, đúng theo kế hoạch sẽ có khoảng trên dưới 50 đồng chí là cán bộ cốt cán sẽ vượt ngục theo đường hầm. Nhưng mới được 21 người chui xuống hầm thì không khí trong trại đã chộn rộn, khiến bọn giám thị nghi ngờ. Ngó thấy chúng có thể vào kiểm tra, ông Hải nhanh chóng quyết định: Không ai xuống hầm thêm nữa, kể cả ông. Thấy ông Hải, người trực tiếp chỉ huy đào hầm lại không trốn đi để bảo toàn cho anh em dưới hầm, mọi người mới thôi nhốn nháo. Bọn giám thị vào giải tán ai về phòng đó và không nghi ngờ gì cả.
Đến 6 giờ sáng hôm sau, khi điểm danh, cai ngục mới phát hiện thiếu tù. Chúng tung một lượng lớn lính quân cảnh truy lùng, cùng chó nghiệp vụ và máy móc hiện đại nhưng đến hơn 10h, mới phát hiện ra cửa hầm. Vào lúc đó những anh em vượt ngục đêm qua đã trốn thoát. Một tên chiêu hồi khai ra ông Hải và mấy anh em khác từng tham gia đào hầm nhưng ông Hải đã khôn ngoan bác lại: "Chúng tôi đào còn ở lại làm gì?". Nắp hầm mở toang làm lũ cai ngục tưởng rằng những người có liên quan đều đã trốn cả. Không ai bị truy vấn thêm nữa. Sau vụ đó, anh em cảm phục gọi ông Hải là "kĩ sư đào hầm".
Thúy Hiền

