Tôi chú ý tới Gác-xi-a Loóc-ca rất sớm. Càng biết về ông, tôi càng bị lôi cuốn bởi một phát hiện mà tôi vẫn xem như một quy luật cơ bản của văn học nghệ thuật. Đó là sự gắn bó của nghệ sĩ với nhân dân lao động. Gác-xi-a Loóc-ca được suy tôn là nhà thơ Tây Ban Nha vĩ đại, đơn giản vì ông quan tâm hơn hết đến cuộc đời của nhân dân lao động và quyết chí thể hiện cuộc đời ấy nhiều chiều bằng một nghệ thuật tuyệt kỹ tinh xảo. Được công chúng hâm mộ như một nhà viết kịch gạo cội, ông đứng lại vĩnh viễn trên văn đàn nhân loại như một thi sĩ đại chúng hút hồn, ngang tầm những Pu-sơ-kin, Uýt-man, Huy-gô, Ta-go, Nguyễn Du hay Đỗ Phủ... Ông ám ảnh tôi, từ một phi lý mà ông phải gánh chịu. Khi cuộc nội chiến Tây Ban Nha nổ ra, thực chất là sự tranh giành quyền thống trị đất nước giữa lực lượng dân chủ và chủ nghĩa phát-xít do tướng Phơ-răng-cô lãnh đạo, ông bị quân lính phát-xít bắt ngay và sát hại, dù ông không hề tham gia hoạt động chính trị nào. Dù muốn dù không, những người bênh vực nhân dân lao động, tức dân nghèo, đều là chướng tai gai mắt đối với các thế lực độc tài chuyên chế. Và nếu không bị tiêu diệt, họ cũng bị o bế hay dồn tới chỗ vô hiệu. Loóc-ca hết lời ngợi ca nhân dân lao động mà lương tri và việc tôn thờ điều hay lẽ phải được coi là nền tảng cho ngôi nhà chung của nhân loại, cho nên ông là kẻ thù không đội trời chung của chủ nghĩa phát-xít bạo tàn. Trong thi phẩm đồ sộ của Gác-xi-a Loóc-ca, nổi lên tập Tình ca di gan, mà hồn cốt là sự hiền minh của tộc người chuyên sống du cư, yêu đời, yêu tự do, luôn trọng đạo nghĩa, luôn giữ bản chất hướng thiện, đặc biệt nhất định không chịu khép mình vào trào lưu rập khuôn chung của thời đại, mà luôn giữ gìn tính độc lập trong suy nghĩ và cảm xúc của mình. Tính độc lập này chính là sự hiền minh của nhân dân lao động, là ứng xử hợp tình hợp lý tối ưu, nhằm bảo đảm cho cộng đồng tồn vong bình yên và phát triển lành mạnh.
Với Tình ca di gan, ta bất ngờ trước tài năng làm mới những đề tài của văn học dân gian tưởng đã cũ mèm, ấy là thiên nhiên và người dân thường vùng quê của tác giả, một thiên đường của lòng bao dung và niềm vui sống trên mặt đất, trong đó thiên nhiên và con người hòa quyện thân thương kỳ ảo. Mỗi bản tình ca là một câu chuyện nhỏ đầy kịch tính, đa màu sắc và nhạc điệu, giàu ý nghĩa vừa cụ thể vừa mông lung, nhưng bao giờ cũng thánh thiện và ấm lòng. Vì vậy, tập thơ được tái bản bảy lần từ khi ra mắt năm 1928, cho đến khi Loóc-ca bị bắn gục, 1936. Từ đó, nó liên tục được in lại và được dịch sang nhiều thứ tiếng, với không ít bản dịch trong một ngôn ngữ. Tôi thán phục nhiều bài trong tập thơ, song thường dừng lâu ở những bài ngắn. Và Ăm-pa-rô được chọn dịch vì nó như một bản dân ca, cô đúc và tự nhiên. Bài thơ gồm 17 câu ngắn, nhưng chứa đựng một câu chuyện hấp dẫn: Một cô gái ở nhà một mình, say mê thả hồn vào những đường thêu, bằng lòng với cái đẹp dung dị, quên hết chung quanh, trong khi một chàng trai bên ngoài, thầm ngắm nghía cô, cảm động vì vẻ thuần khiết của cô, được âm thanh của nước trong sân sau nhà cô, cũng như sự xao động của các cây bách và chim chóc chao lượn trên trời thúc giục. Tất cả, bên trong và bên ngoài lòng chàng, đẩy tình yêu của chàng lên đỉnh điểm. Song chàng không dám vào nhà, không dám cất lên lời yêu hẳn không nén được nữa, trong bối cảnh hoàn toàn thích hợp cho những lời như vậy. Chàng có lẽ không thiếu can đảm trong các việc khác. Nhưng trong trường hợp đang bàn, chàng hoặc e rằng cô gái đã có người yêu, vì cô đang thêu khăn tặng người may mắn đó (?), hoặc không chắc cô có yêu mình không, tức đây là một tình yêu đơn phương, hoặc không muốn phá vỡ mất niềm vui và tự do của cô, điểm mấu chốt của tình yêu đích thực. Nói cho cùng, tình yêu đích thực là vĩnh viễn, đòi hỏi sự hạn chế tự do và hy sinh một phần những thích thú riêng của mỗi bạn tình. Cái thần thánh và thiêng liêng của tình yêu nằm ở chỗ tế nhị không dễ nhận biết ấy, ở luật đời tưởng rất dễ tuân thủ nhưng lại khó hơn mọi bộ luật. Do thế, sự trân trọng tình yêu, cái gốc của đời sống tình cảm là bổn phận cao cả nhất và đắt giá nhất.
Trong Ăm-pa-rô, bản chất nói trên của tình yêu đôi lứa đã được diễn tả thật tự nhiên và thuyết phục qua một tình huống cụ thể. Tâm trạng "Lời yêu khó ngỏ" là phổ biến và điển hình ở mọi xã hội và mọi thời đại. Nếu bỏ đi tên riêng Ăm-pa-rô và tên sân trong ở Tây Ban Nha, pa-chi-ô, bài thơ sẽ là một bài thơ thuần Việt. Đọc bài thơ lần đầu, tôi đã xúc động và muốn chuyển ngữ tức thì. Tôi đã suy nghĩ nhiều, cố dịch sao cho bài thơ hồn nhiên, dễ hiểu, đúng như nguyên bản. Dịch xong, tôi thấy ưng ý và vẫn rưng rưng vì chất nhân bản của tình người, của tình yêu có sức mạnh xuyên qua mọi biên giới, mọi rào cản, để lan tỏa tới muôn đời.
Ăm-pa-rô
Phờ-rê-đê-ri-cô Gác-xi-a Loóc-ca
(Tây Ban Nha)
Ăm-pa-rô
Chỉ mình em trong nhà
Mặc trắng
Từa tựa màu hoa nhài
Màu cam tùng cũng giống
Em có nghe róc rách
Nước trong pa-chi-ô *
Em thấy chăng trong chiều
Bách và chim rung động
Thế mà em chầm chậm
Thêu chữ trên vải thô
Ăm-pa-rô
Chỉ mình em trong nhà
Mặc trắng
Ăm-pa-rô
Khó nói cùng em lắm
Rằng anh yêu em.
.................................
* Sân sau trong các ngôi nhà ở Tây Ban Nha.