Từ đó có thể phần nào dự đoán về viễn cảnh kinh tế cả năm. Theo một số chuyên gia kinh tế, lạm phát có thể dao động từ 6,3% đến 9,3%. Điều đó có nghĩa là mục tiêu lạm phát một con số có thể đạt được.
6 tháng đầu năm, GDP tăng 3,9% so với cùng kỳ năm trước, song đáng quan ngại là sản lượng công nghiệp chỉ tăng có 4,8% và vận tải hàng hóa hầu như không tăng. Đây là hai chỉ số quan trọng cho thấy kinh tế vẫn còn nhiều khó khăn. Sản lượng công nghiệp phản ánh sức mạnh cốt lõi của nền kinh tế. Còn thương mại hàng hóa cho thấy mức độ “nhộn nhịp” của giao dịch kinh tế.
Các con số khác có thể “bỏ qua”, nhưng hai chỉ số này phản ảnh “sức khỏe” và sự năng động của nội bộ nền kinh tế. Cho nên, có thể tạm nhận định rằng, nền kinh tế chưa thực sự “hồi sức” sau “cơn sốt” suy thoái. Đáng lưu ý là, trong 6 tháng qua, tổng mức đầu tư tăng mạnh đạt tới 322,6 ngàn tỷ đồng. Tuy nhiên, nhìn vào cơ cấu lượng đầu tư mới, thì vẫn chủ yếu từ khu vực Nhà nước chiếm 43,9%, còn khu vực tư nhân chỉ có 34,1%.
Theo số liệu của Ngân hàng Nhà nước, khu vực này đã nhận được vốn vay hỗ trợ lãi suất tới 224,5 ngàn tỷ đồng, còn khu vực Nhà nước chỉ nhận 52,4 ngàn tỷ đồng. Con số này cho thấy nguồn vốn hỗ trợ lãi suất có lẽ được khu vực tư nhân sử dụng chủ yếu các mục đích trước mắt như trả lương công nhân, mua nguyên vật liệu... Còn khu vực Nhà nước tăng trưởng đầu tư thông qua các nguồn khác chứ không phải vốn hỗ trợ lãi suất.
Theo nguồn tin từ Tổng cục Thống kê, cung tiền trong nửa đầu năm nay tăng 16-17% so với cùng kỳ năm ngoái, chứng tỏ chính sách nới lỏng tiền tệ đang phát huy tác dụng. Có ý kiến từ một số chuyên gia lo ngại vì mức tăng cung tiền lớn hơn mức tăng trưởng GDP. Đây không phải điểm cốt yếu, vì trên thực tế tăng trưởng cung tiền thường lớn hơn nhiều lần tăng trưởng GDP. Chỉ có điều, hiện mức tăng trưởng cung tiền là khá mạnh nhưng chưa có dấu hiệu lạm phát tăng cao.
Vì sao? Thứ nhất, vì có độ trễ trong chính sách tiền tệ thường kéo dài khoảng 6 tháng. Thứ hai, vòng quay của đồng tiền trong nền kinh tế còn thấp, vì hoạt động kinh tế chưa hồi phục thực sự. Ngoài ra, những nguyên nhân hỗ trợ như giá nguyên liệu thô chưa tăng mạnh trở lại cũng là một nhân tố giúp mức giá chung chưa biến động mạnh.
Giả sử kinh tế thế giới và kinh tế trong nước cùng “nắm tay” nhau hồi phục, đi lên khỏi “đáy”, cộng thêm “điểm rơi” khi độ trễ của chính sách mở rộng tiền tệ, thì lạm phát có thể “vùng lên” rất nhanh và mạnh do hiệu ứng cộng hưởng. Dẫu vậy, thường thì các nhân tố này sẽ phát huy tác dụng vào các thời điểm khác nhau. Do đó, có thể khó có sự đột biến trong mức tăng giá.
Dù có thế nào, các nhà hoạch định chính sách cần cẩn trọng trong việc điều tiết lượng cung tiền và chính sách hỗ trợ lãi suất. Bởi vì điều này có thể khiến tín dụng “chảy” vào nền kinh tế quá mức cần thiết, gây áp lực tái lạm phát vào đầu năm 2010. Kinh tế đang trong giai đoạn “hồi sức”. Từ hồi sức đến hồi phục hoàn toàn đòi hỏi phải có thời gian.
Cho nên, theo ý kiến của Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu kinh tế và chính sách trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội, không nên đặt tham vọng cho tăng trưởng GDP năm nay mà điều lo ngại vẫn là lạm phát. Năm 2009 mức lạm phát có thể dưới 10%, nhưng nguy cơ lạm phát cao vào năm 2010 là hoàn toàn có thể do hiệu ứng tích lũy.