Kinh tế Việt Nam năm 2020: Phải tạo được thể chế mang tính độc lập

Xem tin gốc 

Báo Công Thương - 28 tháng trước 908 lượt xem

Kinh te Viet Nam nam 2020: Phai tao duoc the che mang tinh doc lap

Viện Chiến lược Phát triển - Bộ Kế hoạch và Đầu tư vừa phối hợp với Viện Phát triển Hàn Quốc (KDI) công bố tại Hà Nội báo cáo “Tìm kiếm con đường phát triển và đánh giá tiềm năng tăng trưởng của nền kinh tế Việt Nam đến năm 2020”.

CôngThương - HTML clipboard Báo cáo nằm trong khuôn khổ Dự án “Chia sẻ tri thức” đã lựa chọn đi sâu nghiên cứu về đất đai, khoa học công nghệ, phát triển doanh nghiệp... những lĩnh vực mà Hàn Quốc có nhiều kinh nghiệm từ thành công và cả thất bại. Đây cũng là những vấn đề lớn mà Việt Nam đang phải đối mặt.

Nhiều điểm yếu trong chuyển đổi kinh tế

Theo Báo cáo, Việt Nam có nền kinh tế năng động trong khối ASEAN, tiềm năng tăng trưởng kinh tế rất lớn. Đặc biệt, sau 20 năm đổi mới, tăng trưởng kinh tế của Việt Nam đã đạt trên 6%, trở thành một trong những nước có tỷ lệ đầu tư cao nhất kể từ năm 2000 đến nay. Việt Nam có quá trình cải cách mở cửa mạnh mẽ và ngày càng hoàn thiện. Quan trọng hơn, những thay đổi về mặt thể chế (cởi bỏ điều tiết đối với nền kinh tế, chuyển đổi căn bản từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường) đã góp phần phát triển kinh tế của Việt Nam.

Tuy nhiên, nền kinh tế Việt Nam trong quá trình chuyển đổi nền kinh tế đã bộc lộ nhiều điểm yếu. Tăng trưởng nhanh, nhất là sau những năm 2000, nhưng Việt Nam dựa quá nhiều vào đầu tư, điều này có thể không bền vững. Thời kỳ 1990-2006, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân 6,4%/năm, song tăng trưởng tài sản cố định chiếm tới 2,8 điểm phần trăm, tăng trưởng đầu vào lao động chiếm khoảng 1,2 điểm phần trăm.

Dự báo “lạm phát năm 2010 sẽ cao hơn mục tiêu đề ra của Việt Nam” do Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) công bố, đã xuất hiện những lo ngại lớn về phát triển kinh tế của Việt Nam những năm tới. Rủi ro về bất ổn của nền kinh tế vĩ mô tăng lên. Thâm hụt tài khoản vãng lai cao, đạt mức 9,7% GDP vào năm 2009 và 9,4% năm 2010. Trong khi tính minh bạch, trách nhiệm giải trình đối với phân bổ nguồn lực trong gói kích thích tài khóa vẫn còn nhiều tranh cãi, Việt Nam có thể gặp phải vấn đề nợ xấu tăng lên trong năm 2010.

Tốc độ tăng trưởng tính trên một lao động của Việt Nam tăng nhanh, từ 3,5% mỗi năm trong thập kỷ 90 lên 5,3% những năm 2000. Hiện, Việt Nam đang ở thời kỳ dân số “vàng” nhưng chất lượng nguồn nhân lực thấp, hệ thống giáo dục tụt hậu so với nhu cầu thực tế. Chênh lệch giữa cung và cầu lao động theo lĩnh vực ngành/lĩnh vực lớn... thực sự là trở ngại đối với sự phát triển của Việt Nam. Phát triển sẽ càng khó khăn hơn khi các thị trường nhân tố sản xuất như vốn, đất đai... chưa được hoàn thành.

Cần cân nhắc các chính sách vĩ mô

Trên con đường phát triển, Việt Nam đã xây dựng các chính sách phát triển kinh tế - xã hội trung và dài hạn. Vấn đề thể chế đã có một vài cải thiện, nhưng năng lực thể chế vẫn là trở ngại chủ yếu, cản trở sự phát triển bền vững của Việt Nam. Từ góc độ chính sách, các nhà hoạch định nên tính đến những vấn đề sau khi Việt Nam gia nhập WTO, trong đó, sẽ rất rủi ro nếu quá trình hoạch định chính sách không theo sát thực tế. Các chuyên gia hoạch định kinh tế của Hàn Quốc khuyên: Việt Nam cần thận trọng cân nhắc liều lượng của các chính sách kinh tế vĩ mô (chính sách tiền tệ, tài khóa và tỷ giá hối đoái) được đưa vào thực hiện. Các cơ chế, thể chế cần mang tính độc lập, minh bạch với tầm nhìn rộng lớn, chuyên nghiệp. Các chính sách này cần được bổ trợ bằng các biện pháp ở cấp vi mô, chẳng hạn như hỗ trợ người nghèo, hỗ trợ các doanh nghiệp nhỏ và vừa...

Theo TS. Chin Hee Hahn - Viện KDI, hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới, Việt Nam cần làm quen với việc tạo ra những thay đổi chính sách nhanh hơn, coi việc thực thi, phản biện các các cơ chế, thể chế là cốt lõi. Việc giải quyết những điểm yếu trên đòi hỏi tiến hành những cải cách toàn diện, kiên quyết hơn. “Việt Nam cần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và phải tạo ra được thể chế tốt hơn”, TS Hahn tham vấn.

Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu gây hậu quả lớn, đòi hỏi rà soát nghiêm túc mô hình phát triển hiện nay của Việt Nam. Theo TS Sunghyun Ryu, những năm tới, Việt Nam nên tìm cách thiết lập các loại hình thị trường mang tính hiệu quả. Trên từng thị trường, cần tập trung nỗ lực vào chính sách, quy định phát triển và cả những đối tượng tham gia thị trường. Điều này sẽ giúp Việt Nam phân bổ nguồn lực hiệu quả trong từng thị trường và giữa các thị trường với nhau đồng thời duy trì tính nhất quán với định hướng phát triển nền kinh thế nhiều thành phần ở Việt Nam.

Dự án “Chia sẻ tri thức” dự báo, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm theo thời kỳ 2010 – 2019 là 6,51%, trong đó, tốc độ 5 năm đầu tiên là 67,9%/năm và 5 năm tiếp theo là 6,51%/năm.

Sẽ rất rủi ro nếu quá trình hoạch định chính sách không theo sát thực tế, Việt Nam cần tạo cho được thể chế mang tính độc lập, minh bạch với tầm nhìn rộng lớn hơn.

Hải Vân

Dự án “Chia sẻ tri thức” dự báo, tốc độ tăng trưởng GDP bình quân hàng năm theo thời kỳ 2010 – 2019 là 6,51%, trong đó, tốc độ 5 năm đầu tiên là 67,9%/năm và 5 năm tiếp theo là 6,51%/năm.

Sẽ rất rủi ro nếu quá trình hoạch định chính sách không theo sát thực tế, Việt Nam cần tạo cho được thể chế mang tính độc lập, minh bạch với tầm nhìn rộng lớn hơn.

Chưa có bình luận nào

Hãy đăng ký hoặc đăng nhập để tham gia bình luận.

Về đầu trang