Kinh tế Gia Lai trên hành trình phát triển và hội nhập

Xem tin gốc 

ĐCSVN - 28 tháng trước 234 lượt xem

Kinh te Gia Lai tren hanh trinh phat trien va hoi nhap

Trước năm 1975, nền kinh tế Gia Lai hết sức yếu kém. Sau giải phóng, Đảng bộ, quân và dân các dân tộc trong tỉnh đã phải mất nhiều thời gian, sức lực tập trung hàn gắn vết thương chiến tranh, khôi phục và phát triển sản xuất, xây dựng cuộc sống mới.

Cửa khẩu Quốc tế Lệ Thanh (Đức Cơ).

Ảnh: Đức Thụy

Trong hành trình vô vàn thử thách nhưng vẻ vang đó, dưới ánh sáng các Nghị quyết của Trung ương và của tỉnh, kinh tế Gia Lai đã không ngừng lớn mạnh. Sự phát triển trong từng giai đoạn tuy có khác nhau nhưng tựu trung thành quả đạt được là rất to lớn và quan trọng: Tốc độ tăng trưởng kinh tế hàng năm nhanh, giai đoạn từ năm 1976-1990 bình quân hàng năm tăng 3,5%, giai đoạn từ năm 1991 đến nay bình quân hàng năm tăng trên 11%, quy mô nền kinh tế gấp 34 lần so với năm 1975, GDP bình quân đầu người đến năm 2009 đạt 12,43 triệu đồng, gấp 17 lần so với năm 1991, thu ngân sách năm 2009 đạt gần 2.000 tỉ đồng, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng.

Bên cạnh đó, kết cấu hạ tầng kinh tế- xã hội được tập trung đầu tư, bộ mặt thành thị và nông thôn đổi thay tích cực. Đặc biệt làn gió đổi mới đã có tác dụng to lớn kích thích các thành phần xã hội tham gia đầu tư sản xuất kinh doanh, phát triển kinh tế, khai thác tiềm năng thế mạnh địa phương. Tuy nhiên phải tới thập niên 90 của thế kỷ XX sức sản xuất xã hội mới được giải phóng nhiều mặt, bức tranh kinh tế Gia Lai mới diễn ra sôi động và mới mẻ.

Đi lên từ hoang tàn, đổ nát chiến tranh nên xác định cho được hướng phát triển cho địa phương và có chính sách, giải pháp phù hợp là nhiệm vụ hàng đầu của Đảng bộ tỉnh. Là một tỉnh miền núi cao nguyên nên nông-lâm nghiệp dĩ nhiên chiếm một tỷ trọng lớn trong cơ cấu kinh tế của tỉnh. Rừng và đất rừng đã được khai thác và bảo vệ hợp lý, tận dụng tối đa thế mạnh gắn với làm giàu thêm tài nguyên vốn rừng. Theo thời gian, Gia Lai đã tiến đến xây dựng và định hình khá vững chắc một nền nông nghiệp hàng hóa phát triển dựa trên cơ sở quy hoạch khoa học, hợp lý, chú trọng trồng trọt lẫn chăn nuôi, đẩy mạnh chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi, xây dựng được quy hoạch vùng, xác định tập đoàn cây trồng chủ lực cho từng vùng gắn với các cơ sở chế biến và tiêu thụ: Phía Đông và Đông Nam tỉnh là cây lúa, mía, bắp, điều, cây thực phẩm và cây ăn quả; phía Tây là cây cao su, cà phê, chè, hồ tiêu...

Sản phẩm từ cây công nghiệp có chỗ đứng vững chắc trên thị trường. Đặc biệt, chính sách đúng đắn dành cho nông nghiệp và nông thôn đã có tác dụng tích cực trong việc kích thích sản xuất, xóa đói giảm nghèo bền vững, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đồng bào dân tộc thiểu số. Tiềm năng đất đai được khai thác, được đầu tư phương tiện sản xuất, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, hỗ trợ vốn, nhiều gia đình, nhiều địa phương đã đổi đời, đi lên từ nông nghiệp. Đến cuối năm 2009, giá trị sản xuất nông nghiệp của tỉnh đạt gần 6.500 tỉ đồng, tăng 6,5% so với năm 2008, tổng diện tích gieo trồng trên 432,5 ngàn ha, tổng sản lượng lương thực trên 495 ngàn tấn. Giờ đây tuy đã là “chuyện của ngày xưa” nhưng việc đồng bào dân tộc thiểu số tiếp cận rồi tiến đến biết làm Đông Xuân, trồng cây hàng hóa, cây công nghiệp cho thu nhập cao, góp phần cải thiện cuộc sống, rõ ràng là một kỳ tích. Chính từ những chính sách mới, cách làm hiệu quả mà nhiều vùng quê, vùng biên giới cũng lột xác, không còn cái cảnh phải thường xuyên cứu đói mùa giáp hạt. Có thể kể ra như Pờ Tó, Ia Ma Rơn (huyện Ia Pa); Bờ Ngoong, Ia Blang (huyện Chư Sê); Sơn Lang, Tơ Tung (huyện Kbang); Ia Piơr, Ia Mơ (huyện Chư Prông); Ia Phí (huyện Chư Pah); Ia Tô, Ia O (huyện Ia Grai)... Nhiều vùng đã trở thành miền đất hứa đối với người dân các nơi tìm đến sinh sống lập nghiệp.

Trải qua 35 năm, từ tỷ trọng 15,6% của năm 1976, đến nay, ngành công nghiệp-xây dựng (CN-XD) đã chiếm một vị trí quan trọng trong cơ cấu kinh tế của tỉnh Gia Lai với tỷ trọng 29,57% trong cơ cấu kinh tế của tỉnh. Giá trị sản xuất CN trên địa bàn năm 2009 đạt gần 4.000 tỉ đồng, tăng 36% so với năm 2008. Trong đó, ngành CN sản xuất và phân phối điện, nước đạt trên 323% kế hoạch; ngành CN khai thác mỏ đạt 119% kế hoạch,...Từ chỗ không có một cơ sở sản xuất CN tập trung nào, đến nay tỉnh đã xây dựng khá đầy đủ bản đồ quy hoạch khu-cụm công nghiệp trên địa bàn. Khu Công nghiệp Trà Đa hiện có 25 DN hoạt động sản xuất ổn định, giá trị sản xuất đạt trên 670 tỉ đồng, nộp ngân sách 6,28 tỉ đồng. Cùng với việc đẩy mạnh hoạt động ở các khu công nghiệp, công tác khuyến công hỗ trợ đào tạo nghề, trình diễn kỹ thuật, thi công cơ sở hạ tầng đã có nhiều chuyển biến. Dự án cấp điện đến các thôn làng chưa có điện do Tập đoàn Điện lực Việt Nam thực hiện hoàn thành đóng điện 100% thôn làng vào đầu năm 2010.

Với việc thực hiện có hiệu quả chính sách khuyến khích ưu đãi đầu tư, khai thác các nguồn lực từ trong xã hội, hoạt động đầu tư phát triển rất nhanh chóng và hiệu quả. Nhiều nhà đầu tư trong và ngoài tỉnh đã mạnh dạn bỏ vốn đầu tư sản xuất kinh doanh làm ăn gắn bó với địa phương và cả mở rộng ra khu vực. Đến từ các địa phương khác có Vinatex, Co.op Mart, FBS, Long Sơn..., các nhà đầu tư ở địa phương tiêu biểu có Hoàng Anh Gia Lai, Đức Long Gia Lai, Quang Đức, Quốc Cường... Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội đến cuối năm 2009 là gần 7.200 tỉ đồng, tăng 15,5% so với năm trước. Từ chỗ nhỏ bé, manh mún, ngành CN-XD của tỉnh đã tiến một bước rất dài, để nắm giữ vị trí quan trọng thứ hai về tỷ trọng trong cơ cấu kinh tế. Giờ đây với quy mô và hiệu quả mang lại, với các công trình đã trở thành biểu tượng của đất nước và địa phương như thủy lợi Ayun Hạ, thủy điện Ia Ly, cầu Quý Đức và hàng trăm, hàng ngàn công trình xây dựng lớn nhỏ khác, ngành CN-XD của tỉnh hoàn toàn có thể tự hào vì sự đóng góp quan trọng của mình vào sự phát triển chung.

Trong hơn 20 năm đổi mới, cùng với cả nước, hoạt động của các ngành dịch vụ của tỉnh phát triển nhanh vượt bậc, một số ngành thực hiện “đi tắt đón đầu” và đã thành công ngoài mong đợi như ngân hàng, viễn thông, bảo hiểm. Năm 2009, ngành Thương mại của tỉnh đã đạt giá trị trên 10 ngàn tỉ đồng bán lẻ hàng hóa. Từ chỗ chưa hề diễn ra hoạt động xuất khẩu, giá trị kim ngạch xuất khẩu của tỉnh đã trở thành một chỉ tiêu kinh tế quan trọng. Năm 2009 mặc dù gặp phải khó khăn do khủng hoảng tài chính và suy giảm kinh tế nhưng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh vẫn đạt 120 triệu USD, cho các mặt hàng xuất khẩu chủ lực: Cà phê, mủ cao su, gỗ tinh chế, mì lát... Sự phát triển và thành quả đạt được của tỉnh trên các lĩnh vực của đời sống xã hội nói chung, lĩnh vực kinh tế nói riêng rõ ràng là rất đáng tự hào và vẻ vang, mà không thế lực nào có thể phủ nhận. 35 năm-quãng thời gian khá dài đối với một đời người nhưng lại rất ngắn trong tiến trình lịch sử phát triển đi lên của đất nước và dân tộc. Ý nghĩa và giá trị của độc lập, tự do, thống nhất Tổ quốc và thành quả của công cuộc khôi phục, phát triển và hội nhập, mỗi người dân Gia Lai đều thấy rõ trách nhiệm của mình vì sự phát triển đi lên của tỉnh nhà và đất nước trong cuộc sống hôm nay./.

Chưa có bình luận nào

Hãy đăng ký hoặc đăng nhập để tham gia bình luận.

Về đầu trang