Theo kết quả điều tra mức sống hộ gia đình Việt Nam năm 2008, được tiến hành cùng với Tổng cục Thống kê, Ngân hàng Thế giới (WB) nhận định rằng, Việt Nam tiếp tục đạt được tiến bộ trong lĩnh vực giảm nghèo, tuy có sự khác biệt về phương pháp tính toán giữa WB và Chính phủ Việt Nam. Theo WB, tỷ lệ hộ nghèo năm 2008 là 14% so với tỷ lệ 12% của Chính phủ.
Chuyên gia kinh tế trưởng của WB tại Hà Nội, ông Martin Rama đồng ý rằng, bên cạnh những nỗ lực đáng ghi nhận của Chính phủ, việc Việt Nam giữ nguyên chuẩn nghèo suốt mấy năm qua, bất chấp tỷ lệ lạm phát qua từng năm khá cao, là một trong những nguyên nhân đạt được thành tích trên. Theo Quyết định số 170 của Thủ tướng Chính phủ, ký ngày 8-7-2005, chuẩn nghèo áp dụng cho giai đoạn 2006-2010 là 200.000 đồng/người/tháng ở nông thôn và 260.000 đồng/người/tháng ở thành thị.
Trong khi đó, chỉ số giá tiêu dùng của các năm 2006, 2007, 2008 và 2009 (dự kiến) lần lượt tăng là 6,6%, 12,6%, 23% và (dự kiến) 6%. Ngay từ tháng 7-2008, thời điểm diễn ra Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng, trong đó có bàn về tam nông, đặc biệt là nông dân chiếm tỷ lệ nghèo nhiều nhất, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Lao động-Thương binh và Xã hội lập phương án điều chỉnh chuẩn nghèo của nước ta áp dụng cho giai đoạn 2009-2010.
5 tháng sau đó, Bộ này đã trình lên Thủ tướng Chính phủ phương án nâng chuẩn nghèo lên 50% so với chuẩn nghèo năm 2005. Thế nhưng, phương án này không được phê duyệt. Vì sao? Theo các chuyên gia một trong những nguyên nhân chính là ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính-kinh tế thế giới đối với nước ta, vì thế ưu tiên cần dành cho những đối tượng khác để vực dậy nền kinh tế thoát khỏi đáy suy giảm kinh tế.
Theo số liệu của Vụ trưởng Vụ Lao động, Văn hóa và Xã hội (Bộ Kế hoạch-Đầu tư), số hộ thuộc diện cận nghèo (cao hơn chuẩn nghèo đang áp dụng và thấp dưới chuẩn nghèo theo đề nghị điều chỉnh) là hơn 1 triệu hộ. Mới đây, một cuộc khảo sát, điều tra của một tổ chức trong nước phối hợp với hai tổ chức quốc tế tiến hành đã công bố, hiện nay trên cả nước có tới 7 triệu trẻ em đang sống ở mức nghèo. Sự “nghèo” ở đây, được mở rộng sang các lĩnh vực hưởng các chính sách về giáo dục, chăm sóc sức khỏe, học hành và vui chơi giải trí.
Cũng như khoảng cách giàu-nghèo ở người lớn, 7 triệu trẻ em nghèo chủ yếu rơi vào “vùng trũng” ở nông thôn, miền núi và vùng sâu, vùng xa. Tương tự, tỷ lệ trẻ em nghèo thường “rơi” vào các hộ nghèo ở nông thôn, miền núi, các dân tộc thiểu số. Cha mẹ nghèo, thu nhập thấp, trong bối cảnh suy giảm kinh tế, đời sống vô vàn khốn khó, thì đương nhiên con cái họ cũng cùng hứng chịu thiệt thòi về mọi phương diện so với trẻ em ở thành thị và những hộ gia đình có thu nhập trung bình, cao và ổn định.
Bàn về vấn đề tỷ lệ nghèo theo chuẩn hiện hành, Vụ trưởng Vụ Lao động, Văn hóa và Xã hội nhấn mạnh đến một thách thức không thể xem thường mà Trung Quốc, một nước cũng có tỷ lệ dân nghèo khá cao đã gặp phải và đang chịu hệ lụy.
Đó là sự nghèo hiện không còn lại hiện tượng dàn trải trên diện rộng toàn quốc, mà quy tụ ở những địa bàn, những nhóm dân cư nhất định, đặc biệt ở những khu vực vùng sâu, vùng xa và đồng bào dân tộc thiểu số. Có những nơi hộ nghèo chiếm tới 95%, thậm chí “trăm phần trăm”.