Nhà báo Phương Loan: Thưa quý vị và các bạn, trên thế giới vấn đề biến đổi khí hậu (BĐKH) đang dần trở thành chủ đề bao trùm lên cả chính trị lẫn kinh tế. Người ta đang ngóng chờ hội nghị Copenhagen tháng 12 này với hi vọng sẽ ra đời một khung pháp lý thay thế cho nghị định thư Kyoto về cắt giảm khí thải gây hiệu ứng nhà kính.
Ngay lúc này tại Việt Nam (VN), cuộc sống của mỗi người cũng đang chịu ảnh hưởng trực tiếp của các hiện tượng BĐKH như các đợt bão lũ ngày càng nhiều với cường độ càng lớn, không khí lạnh nóng bất thường. Chúng ta đã chuẩn bị như thế nào cho sự biến đổi đó?
Hôm nay, tại trường quay của VietNamNet, hai vị khách mời sẽ tham gia thảo luận về vấn đề này là ông Phan Văn Ngọc, Giám đốc quốc gia ActionAid Việt Nam và GS. TSKH Trương Quang Học, Trưởng ban Biến đổi khí hậu, Hội bảo vệ thiên nhiên và môi trường Việt Nam.
Cách biệt quan điểm giữa nước giàu và nước nghèo
Trước hết xin có câu hỏi chung cho hai ông: Tại sao BĐKH ngày càng trở nên quan trọng, trở thành mối lo chung, nhận được sự quan tâm của thế giới?
Ông Phan Văn Ngọc: Biến đổi khí hậu làm thay đổi tất cả các cục diện ở các mặt ví dụ như hạn hán kéo dài, mưa bão, lụt lội... Tất cả những khía cạnh này ảnh hưởng trực tiếp lên đời sống và sinh kế của người dân, đặc biệt ở các nước nghèo. Ở các nước này, sinh kế của người dân phụ thuộc rất nhiều vào nông nghiệp, gắn với miếng cơm manh áo hàng ngày.
Tất cả các nước nghèo đều quan tâm đến việc thay đổi khí hậu. Đặc biệt ở VN, dự báo mực nước biển dâng cũng là một trong những nguy cơ trong tương lai.
GS Trương Quang Học: Nguyên nhân của vấn đề biến đổi khí hậu đã là chủ đề tranh luận suốt 30 năm. Trong thời gian gần đây, những cứ liệu khoa học đã có rất nhiều, và người ta có sự thống nhất, đặc biệt giữa các nhà khoa học với nhau về nguyên nhân của biến đổi khí hậu: đó là do những hoạt động kinh tế xã hội làm phát thải các khí nhà kính gây nên hiện tượng biến đổi khí hậu.
Đặc biệt, báo cáo lần thứ 4 của Ủy ban liên chính phủ về biến đổi khí hậu năm 2007 đã khẳng định rất rõ: 90% nguyên nhân gây ra biến đổi khí hậu do chính hoạt động của con người gây ra.
Điều thứ hai là, trong thời gian vừa rồi những tác động của biến đổi khí hậu tới tất cả các vùng miền, tới tất cả các lĩnh vực tương đối rõ. Rõ nhất là những dạng thiên tai xảy ra trên thế giới. Ví dụ trận bão Kathrina ở Mỹ năm 2002, hoặc những đợt động đất, lũ lụt ở Trung Quốc, hay trận bão Nadrid ở Myanmar. Ở VN và Philipine trong năm nay tôi nghĩ bão tố sẽ xảy ra nhiều, gây ra tác hại lớn.
Các dạng thiên tai ngày càng nhiều và mức độ ngày càng lớn hơn.
Vì vậy Liên Hợp Quốc trong những năm gần đây đặc biệt chú ý đến vấn đề này, coi đó là một thách thức lớn nhất của nhân loại trong thế kỉ 21.
Trong 3 năm gần đây, thông điệp của LHQ gửi cho tất cả các công dân trên thế giới đều nhắc đến điều này. Năm 2007 là băng tan một vấn đề nóng bỏng. Năm 2008 là hãy thay đổi thói quen hướng đến một nền kinh tế ít cacbon. Đến năm vừa rồi là thế giới đang cần chúng ta, hãy liên kết lại trong cuộc chiến chống biến đổi khí hậu. Phong trào 1 tuần lễ làm sạch thế giới với năm với chủ đề cộng đồng liên kết lại để chống lại biến đổi khí hậu.
Điều đó nói rằng tác động của biến đổi khí hậu hiện hữu, tác động mạnh mẽ. Hiện nay cộng đồng quốc tế, cũng như mỗi quốc gia đã có những cố gắng rất lớn để có những giải pháp ứng phó hiệu quả với biến đổi khí hậu.
Nhà báo Phương Loan: Như hai ông đã nói, vấn đề BĐKH ngày càng hiện hữu trong đời sống hàng ngày của người dân. Chúng ta cũng có nhiều giải pháp để ứng phó với hiện tượng này. Tuy nhiên từ nghị định Kyoto đến nay, trước thời điểm Hội nghị Thượng đỉnh Copenhagen về BĐKH, theo các ông, thế giới đã đi qua những chặng đường nào về nhận thức về vấn đề này? Liệu đã có những thay đổi gì trong nhận thức, cũng như cách thức ứng phó với BĐKH?
Ông Phan Văn Ngọc: Theo dõi rất sát ngay từ khi có Hiệp định Kyoto, cho đến nay, chúng tôi thấy, các nước có nhiều cuộc thảo luận, có những hoạt động nâng cao nhận thức cho người dân cũng như Chính phủ các nước để làm sao giảm thiểu tác động rủi ro của BĐKH.
Trên bình diện quốc tế, có rất nhiều cuộc đàm phán. Bắt đầu từ 2007, chương trình hành động Bali được triển khai. Gần đây nhất, là các phiên thảo luận ở Barcelona, và sắp tới đây là Copenhagen.
Chính phủ các nước đang rất tích cực ngồi với nhau để thảo luận, đưa ra chương trình hành động, các nghị định hợp tác với nhau để giải quyết hiểm họa BĐKH trong thế kỉ này.
Dù có nhiều thảo luận như vậy, nhưng đến nay, kết quả chưa đáng là bao. Còn rất nhiều cách biệt trong quan điểm giữa nước nghèo với nước giàu liên quan đến BĐKH.
Để thích ứng giảm thiểu tác động xấu nhất của BĐKH là cả một con đường rất dài. Sẽ còn mất rất nhiều thời gian để giải quyết tận gốc vấn đề.
GS Trương Quang Học. Ảnh: Phạm Hải
Từ đó đến nay ta cũng đã làm được một số việc nhưng đúng như ông Ngọc vừa nói, đó không phải là những việc rất quan trọng, việc lớn.
Sau khi kí kết Hiệp định Kyoto 1997 mãi đến 2005 thì nó mới trở thành luật quốc tế chính thức để thực hiện trên phạm vi toàn cầu.
Từ bấy đến nay cũng có một số hoạt động, quan trọng nhất là tôi muốn nhấn mạnh đến năm 2007 có 3 hoạt động quan trọng.
Hoạt động thứ nhất là có báo cáo lần thứ 4 của ủy ban liên chính phủ về BĐKH đánh giá và đưa ra kết luận rằng 90% những tác nhân gây BĐKH là do con người gây ra. Việc này rất quan trọng, vì từ đó ta đưa ra những giải pháp, định hướng cho các giải pháp để ứng phó với BĐKH.
Cũng năm 2007, nguyên Phó Tổng thống Goor đã nhận giải Nobel về hòa bình cho những nỗ lực trong việc xây dựng và tuyên truyền lượng kiến thức to lớn về BĐKH, tạo nền tảng cho việc đề xuất cách thức ứng phó BĐKH. Hai sự kiện này nhận chung một giải thưởng Nobel Hòa bình năm 2007.
Một sự kiện quan trọng nữa là Hội nghị các bên tham gia Công ước BĐKH thì đã có cuộc họp 13 ở Indonesia kết luận một lộ trình Bali trong vòng 2 năm, tức là cho đến năm nay hết lộ trình này để xây dựng Hiệp ước toàn cầu mới thay thế cho Nghị định Kyoto sẽ hết hạn vào cuối năm 2012.
Tuy nhiên, tôi đánh giá, trong thời gian vừa qua tiến trình việc thực hiện Nghị định Kyoto là chậm, đặc biệt là những nước đang phát triển. Những cam kết rất quan trọng mà chúng ta hi vọng cho tới nay trước ngưỡng cửa của Copenhagen vẫn chưa đạt được.
Hiện nay rất nhiều Hội nghị quốc tế đã được họp ở Bond tháng 8 vừa rồi, ở New York, ở Băngkok tháng 9 vừa rồi, và tháng 11 ở Copenhagen vừa rồi... Những thỏa thuận đạt được chưa phải là những vấn đề mà chúng ta mong muốn về cơ bản.
Không ai đứng ngoài cuộc
Nhà báo Phương Loan: Như các ông đã nói nguyên nhân căn bản gây nên hiện tượng BĐKH là do các hoạt động kinh tế xã hội của con người. Với tốc độ phát triển kinh tế rất nhanh như Trung Quốc, Ấn Độ, Brazil..., các nước không thuộc diện phải cam kết cắt giảm lượng khí gây hiệu ứng nhà kính theo Kyoto, người ta đang đặt vấn đề là nếu như không có sự tham gia của các nước này với một cam kết rõ ràng cụ thể thì với những nỗ lực để làm chậm quá trình BĐKH thành vô nghĩa. Liệu với hội nghị Copenhagen lần này chúng ta có thể kì vọng vào một sự thay đổi hay không?
Ông Phan Văn Ngọc: Theo những gì tôi biết ở Hội nghị Bangkok chúng tôi có tham dự và ở Barcelona, tất nhiên là quan điểm của Trung Quốc, Brazil rất rõ ràng. Chính phủ Trung Quốc nói rằng quyết tâm làm những gì có thể làm được để giảm thiểu rủi ro của thay đổi khí hậu.
Tất nhiên, Trung Quốc cũng chia sẻ chung với quan điểm của nhóm G77, nghĩa là quy trách nhiệm rất nặng nếu không nói là tất cả cho các nước công nghiệp đã phát triển. Vì chính các nước công nghiệp đã phát triển là nguyên nhân gây ra hiệu ứng nhà kính gây ra những thay đổi khí hậu hiện nay.
Ruộng đồng nứt nẻ và mối lo an ninh lương thực của thế giới.
Nói như vậy không có nghĩa là Trung Quốc không chịu trách nhiệm.
Hội nghị ở Barcelona vừa qua cũng đưa ra tuyên bố chung nói rằng tất cả các nước đều phải chịu trách nhiệm cho việc tham gia làm sao để giảm thiểu nguy cơ của BĐKH nhưng ở các mức độ khác nhau.
Quan điểm của chúng tôi cho rằng đây là cuộc chiến toàn cầu, tất cả các nước đều phải chịu trách nhiệm nhưng ở mức độ khác nhau. Không có nước nào được phép cho mình đứng ngoài cuộc trong chiến trận này.
Nhà báo Phương Loan: Cụ thế mức độ khác nhau như thế nào, thưa ông?
Ông Phan Văn Ngọc: Các chuyên gia kĩ thuật hiện đang làm việc với nhau về mức độ khác nhau này.
Mức độ khác nhau là thứ nhất ở những nước công nghiệp phát triển, anh đã sử dụng rất nhiều những tài nguyên thiên nhiên dẫn đến nền kinh tế sử dụng nhiều cacbon gây nên hiệu ứng nhà kính. Và vì vậy các nước giàu phải chịu trách nhiệm chính.
Nói như vậy không có nghĩa là các nước đang phát triển không chịu trách nhiệm gì. Chúng ta cũng phải nâng cao ý thức người dân, xây dựng nền kinh tế sử dụng hàm lượng cacbon thấp. Trung Quốc, Ấn Độ cũng như vậy.
GS Trương Quang Học: Tôi phải nói tới phụ lục 1 của Nghị định Kyoto. Trong phụ lục 1 quy định những nước có nền công nghiệp phát triển, phát thải lượng nhà kính lớn thì trong phụ lục 1. Còn ở Việt Nam và những nước đang phát triển khác có lượng phát thải thấp nên không nằm trong phụ lục 1.
Những nước nằm trong phụ lục 1 có 2 nghĩa vụ. Nghĩa vụ thứ nhất là giảm lượng phát thải của mình. Nghĩa vụ thứ hai là đóng góp tài chính để hỗ trợ các nước đang phát triển có những giải pháp thích ứng với BĐKH.
Nhưng trong thời gian vừa qua một số nước có nền kinh tế đang chuyển đổi, rõ ràng nhất là Trung Quốc, Ấn Độ lúc bấy giờ phát triển rất mạnh, lượng phát thải rất lớn. Cho đến 2009, Trung Quốc đã vượt Mỹ và trở thành nước có lượng phát thải nhà kính lớn nhất và 2 nước này có lượng phát thải chiếm đến 20%.
Các nước phát triển công nghiệp hiện nay lượng phát thải của họ chiếm đến trên 40% tổng lượng phát thải trên toàn thế giới.
Vì vậy tôi nghĩ trong thời gian vừa rồi cũng có những điều chỉnh nhất định, ví dụ không phải chỉ với những nước có trong phụ lục 1 mới có nghĩa vụ ấy mà những nước trong nền phát triển chuyển đổi trong đó có Ấn Độ, Trung Quốc, Brazil và một số nước khác có phát thải lớn vẫn phải có nghĩa vụ giảm lượng phát thải ấy.
Nếu chúng ta không có những cam kết sự thay đổi như thế này thì khó có thể giảm phát thải chung toàn cầu.
Đến Copenhaghen, không ai muốn về tay không
Nhà báo Phương Loan: Thưa ông, cũng liên quan đến vấn đề này cách đây 1 tuần Trung Quốc lần đầu tiên đưa ra cam kết về cắt giảm lượng khí thải gây ứng nhà kính. Hội nghị Copenhagen tới đây, cho đến thời điểm này, hơn 60 Tổng thống, Thủ tướng của các quốc gia đã thông báo sẽ tham dự hội nghị. Trong đó không chỉ Trung Quốc mà một số nước được xem là thủ phạm chính gây nên hiện tượng này như Mỹ, hoặc EU đã đưa ra những cam kết ban đầu của mình. Với những tín hiệu tích cực như vậy, liệu ta có thể lạc quan về kết quả Hội nghị Copenhagen lần này hay không? Và chúng ta cần làm gì để thúc đẩy tiến trình này?
Ông Phan Văn Ngọc: Theo thông tin chúng tôi nhận được thì thấy có rất nhiều tín hiệu lạc quan. Lạc quan ở đây là một số nguyên thủ quốc gia vào loại mạnh nhất trên thế giới cũng đã cam kết đến Copenhagen. Chúng tôi đánh giá rất cao nỗ lực của Chính phủ Đan Mạch đã có những cuộc vận động. Thủ tướng Việt Nam cũng sẽ tham dự hội nghị. Đó là những tín hiệu lạc quan.
Theo chúng tôi hiểu, nguyên thủ quốc gia của các nước hùng cường nhất đến Hội nghị thì dứt khoát phải có một cái gì đó mạnh mẽ trên bàn làm việc. Phần lớn các nguyên thủ quốc gia họ không muốn ra về với tay không. Đó là quan sát của chúng tôi cũng như báo chí bình luận như vậy.
Tuy nhiên, cá nhân tôi cho rằng, ngay trước thềm hội nghị Copenhagen, cho đến giờ, quan điểm của các nước còn rất xa nhau.
Theo tính toán có cơ sở khoa học, người ta chỉ ra rằng những rủi ro của BĐKH đòi hỏi các nước công nghiệp phát triển cho đến năm 2020 phải giảm thiểu đến mức 40% hiệu ứng nhà kính so với mức thải ra năm 1990, đó là mức tối thiểu.
Mức đóng góp tài chính trong phụ lục 1 như GS Học nói là phải tới 200 tỉ đô la năm 2020 cho các nước đang phát triển để thích ứng, giảm thiểu rủi ro hiệu ứng nhà kính đặc biệt ở các nước, vùng, các quốc đảo nhỏ...
Tuy nhiên, phần lớn cam kết cho đến hôm nay như của một loạt chính phủ Cộng đồng Châu Âu mới dừng ở mức: chúng tôi sẵn sàng cắt giảm, nhưng chỉ sẵn sàng cắt giảm trung bình khoảng từ 15-20%. Như vậy có nghĩa là còn xa so với yêu cầu.
Số vốn để cam kết thay bằng việc người ta đề nghị phải 200 tỉ đô la tới năm 2020 cho những hành động để thích nghi, giảm thiểu rủi ro thì các nước chỉ cam kết độ khoảng 40 tỉ, có nghĩa là 1/5.
Vì vậy tôi cho rằng Hiệp định khung Copenhagen sẽ không thỏa mãn tất cả các bên. Đây là hội nghị của các đối tác, và việc ra đời một Hiệp định khung hoặc với công ước ràng buộc về mặt pháp lý, buộc các nước phải thực hiện, theo tôi là là một viễn cảnh còn rất xa.
Rất có thể hai trường hợp xảy ra. Trường hợp 1 là các nước nguyên thủ quốc gia có bay đến cũng không thỏa thuận được bất kể cái gì cụ thể cả. Nhưng tôi thiên về trường hợp thứ hai là người ta có thể sẽ thỏa thuận được một số điều gì đó làm tiền đề để cho các nhà kỹ thuật cũng như các nguyên thủ quốc gia tiếp tục đàm phán trong những năm tiếp theo.
Mà theo quan điểm của tổ chức chúng tôi, tốt nhất không có cái gì còn hơn là thỏa thuận được một cái gì nhưng nó không đáp ứng được nhu cầu của tất cả các bên.
GS Trương Quang Học: Tôi nghĩ trong thời gian vừa qua cộng đồng quốc tế, đặc biệt là Liên Hiệp Quốc có rất nhiều cố gắng nhưng chưa đủ cơ sở chắc chắn để tin tưởng vào Hội nghị Copenhaghen.
Ảnh: Phạm Hải
Có thể trong Hội nghị này một hiệp ước khung như ta mong đợi thì chưa có được, có thể phải 1 năm nữa.
Nước phát triển phải trả món nợ sinh thái
Nhà báo Phương Loan: Song song với việc mong muốn xây dựng một khung pháp lý thay thế cho Nghị định Kyoto thì nhiều người đặt ra vấn đề quan trọng trong hội nghị lần này liên quan đến vấn đề phân chia, chia sẻ trách nhiệm của nước giàu và nước nghèo để thích ứng đối phó với BĐKH. Như ông Ngọc vừa nêu hiện nay con số cam kết mới là 40 tỉ đô trong khi tính toán là cần đến 200 tỉ đô. Trong góc nhìn của ActionAid thì việc chia sẻ trách nhiệm của nước giàu - tác nhân chính gây ra BĐKH đối với nước nghèo - đối tượng chịu tổn thương nhiều nhất với quá trình này ra sao?
Ông Phan Văn Ngọc: Về chia sẻ trách nhiệm thì quan điểm của chúng tôi rất rõ ràng. Thứ nhất, đã có báo cáo cụ thể việc gây ra thay đổi khí hậu là do hoạt động của con người, là tất cả những nước công nghiệp phát triển từ trước đến giờ đã sử dụng các nguồn tài nguyên thiên nhiên, và mục đích phát triển kinh tế của họ gây ra hiệu ứng này.
Vấn đề ở đây là các nước công nghiệp phát triển, các nước giàu phải chịu trách nhiệm toàn bộ cho những vấn đề xảy ra. Đây không phải là vấn đề viện trợ, mà là trả nợ.
Chúng tôi đặt tên nó là "công lý sinh thái": anh đã sử dụng tài nguyên thiên nhiên của thế giới, phục vụ mục đích phát triển của đất nước anh, bây giờ nó gây ra BĐKH thì anh phải dùng tất cả tiền, thu nhập thu được đền bù cho những gì anh đã gây ra.
Tất cả các nước trên thế giới đều phải có trách nhiệm tham gia vào tiến trình giảm thiểu BĐKH nhưng trách nhiệm về mặt tài chính và kĩ thuật thuộc về các nước công nghiệp phát triển.
Đây không phải là viện trợ cho các nước nghèo mà là trả nợ cho những cái anh đã vay người ta để làm trước đây, bây giờ người ta không còn cơ hội để làm nữa.Các nước kém phát triển chưa có điều kiện phát triển kinh tế, chưa có điều kiện sử dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên đó nhưng bây giờ người ta đã phải cắt giảm. Việc này là không công bằng.
Mỗi công dân chưa vào cuộc, cuộc chiến vẫn xa vời
Nhà báo Phương Loan: Tôi rất chia sẻ với quan điểm của ông. Khi thế giới đã chỉ trích Malaysia hiện tượng phá rừng này thì cựu Thủ tướng Malaysia đã nói phải chăng thế giới đang đòi Malaysia phải từ bỏ sự phát triển của mình để phần còn lại của thế giới được thở. Đó cũng là câu chuyện chung của các quốc gia dưới áp lực của việc ứng phó với BĐKH là nhu cầu phát triển của các nước không thể chối bỏ cũng như đảm bảo đời sống người dân. Thế nhưng hiện nay với thách thức toàn cầu như thế này người ta lại đòi hỏi các nước đang phát triển phải có hành động vì lợi ích chung toàn cầu. Vậy theo các ông, giải bài toán tiến thoái lưỡng nan này như thế nào đối với các nước đang phát triển?
Ông Phan Văn Ngọc. Ảnh: Phạm Hải Ông Phan Văn Ngọc
Mỗi người phải ý thức được rằng hôm nay mình sử dụng một tờ giấy, ô tô, xe máy, đi máy bay... cũng là đang góp vào gây BĐKH. Giảm thiểu được cái này là mình đã góp phần giảm thiểu hiệu ứng nhà kính.
Nếu từng người dân, các cấp các ngành, cả quốc gia cùng đồng lòng hợp lực thì không khó.
Hiện nay, các nước giàu người ta không chịu trách nhiệm cho việc tài chính, hỗ trợ kĩ thuật cho nước nghèo bởi vì người ta còn quá quan tâm đến lợi ích riêng của đất nước người ta. Tôi không muốn đưa ra bất kì một cái tên nước cụ thể nào trên thế giới này, nhưng trong trường hợp tất cả các công dân, chính phủ trên thế giới này chưa vào cuộc thì cuộc chiến chống BĐKH vẫn còn xa vời.
GS Trương Quang Học: Tôi muốn nói thêm về cụm từ trách nhiệm chung nhưng có phân biệt.
BĐKH trên phạm vi toàn cầu và trách nhiệm của mỗi công dân bất kì nước nào nhưng phân biệt là nguyên nhân gây ra BĐKH chủ yếu do sự phát thải của các nước công nghiệp phát triển. Vì vậy có hai nghĩa vụ: nghĩa vụ thứ nhất là giảm nhẹ phát thải, nghĩa vụ thứ hai là đóng góp.
Vì anh gây ra cái này nên tác hại của các nước đang phát triển phải chịu hậu quả nên anh có nghĩa vụ đóng góp để cho các nước đang phát triển ứng phó với BĐKH để làm giảm những tác động xấu của BĐKH đối với những nước mà không gây ra nguyên nhân ấy nhưng phải chịu hậu quả.
Mặt khác, nếu chúng ta làm việc phát thải cũng như phát triển các công nghệ thực hiện các môi trường ở các nước đang phát triển hiện nay thì giá sẽ rẻ hơn. Như vậy hai bên đều có lợi.
Ví dụ Việt Nam ta không nằm trong phụ lục 1, không có nghĩa vụ giảm phát thải nhưng trong chương trình mục tiêu quốc gia của ta có rất nhiều các hoạt động nhằm phát thải như sử dụng công nghệ thân thiện môi trường như năng lượng gió, năng lượng mặt trời, các nguồn năng lượng khác...hoặc tham gia các chương trình giảm nhẹ khí phát thải do suy thoái rừng, đẩy mạnh phong trào sản xuất khí sinh học, thu thập khí phát thải khí nhà kính từ các bãi rác... Tất cả những hoạt động này góp phần giảm nhẹ BĐKH trên phạm vi toàn cầu, đóng góp với cộng đồng quốc tế mặc dù chúng ta không có nghĩa vụ này.
Không thể mãi sa đà vào nền kinh tế carbon
Độc giả Hồng Minh: Theo nghị định Kyoto chúng ta có cơ chế phát triển xanh trong đó cho phép các quốc gia mua bán hạn mức khí phát thải nhà kính. Ở những nước kém phát triển có lượng phát thải khí nhà kính ít hơn có thể bán những cái này cho những nước đang phát triển. Với VN chúng ta đã tận dụng được cơ chế này chưa, với điều kiện của VN thì hoàn toàn có thể làm được việc đó. Theo ông Ngọc ta có thể tham gia vào đạt được lợi ích kinh tế cho VN thông qua cơ chế phát triển xanh này?
Ông Phan Văn Ngọc: Việt Nam đã có rất nhiều giải pháp đặc biệt là chiến lược phát triển bền vững ta đưa ra mô hình sử dụng năng lượng sạch, tôi hoàn toàn hoan nghênh. Tuy nhiên, Việt Nam có lợi dụng cơ chế để dùng những quota cho việc mua lại lượng phát thải nhà kính hay không? Câu trả lời của tôi là Việt Nam không nên tham gia. Lí do thứ nhất là ta có rất nhiều việc phải làm, thứ hai là các ông bạn cùng hợp tác, có mối chia sẻ làm cùng chúng ta cũng không phải sẵn sàng ngồi đàm phán với ta để làm việc này, vì việc này hoàn toàn không dễ.
Theo tôi, bất kì các nước phát triển nào đến hợp tác với chúng ta mua lại những quota đó về sử dụng nước họ, mà phần lớn là các nước liên đới xung quanh nước ta. Mà những nước quanh chúng ta phần lớn là những nước chưa vấp phải vấn đề nặng nề với việc thải ra môi trường quá nhiều hiệu ứng nhà kính.
Không thể sa đà mãi vào nền kinh tế carbon.Trong ảnh: một nhà máy xử lý than bùn ở Đức. Ảnh: Getty Images.
GS Trương Quang Học: Tôi cũng chia sẻ với ý kiến của ông Ngọc vì thực ra chúng ta thực hiện việc mua bán như thế này các nước đang phát triển họ tiếp tục mua của chúng ta lượng phát thải cao lên nữa.
Nghĩa vụ của chúng ta là phải giảm nó đi, chứ không phải đưa cái mà chúng ta chưa đạt được đưa cho người khác để tiếp tục phát thải.
Tuy vậy, trong thời gian qua cơ chế phát triển sạch VN ta đã có những cố gắng để có những dự án này. Cùng một lúc ta có nhiều cái lợi. Lợi thứ nhất là đóng góp vào dạng phát thải chung. Lợi thứ hai ta có những lợi về mặt kinh tế và tiết kiệm về mặt năng lượng.
Cho tới nay trước năm 2005 ta có 4 dự án CDM, năm 2006 có một cái và riêng trong năm 2009 có tới 6 cái nữa, tổng số là có 11 dự án CDM. Đó là một bước tiến lớn của ta trong thời gian vừa qua.
Nhà báo Phương Loan: Việc thực hiện cơ chế CDM có lợi cho VN là ta đang thúc đẩy quá trình phát triển công nghệ sạch ở VN, đó là việc ta cân nhắc. Vấn đề không phải là ta chia sẻ mà là trao đổi kinh doanh quota với các nước phát triển, mà đó cũng là động lực cơ chế để thúc đẩy công nghệ sạch, giúp nền kinh tế Việt Nam thích ứng với điều kiện biến đổi khí hậu.
Không ràng buộc pháp lý, người ta cam kết và lờ đi
Quay trở lại vấn đề chia sẻ trách nhiệm, như các ông đều đồng ý, đó là trách nhiệm và nghĩa vụ của các nước phát triển giàu để cùng với các nước đang phát triển giải quyết vấn đề này. Theo tuyên bố năm 2001, các nước giàu đã hứa cung cấp 410 triệu đô mỗi năm cho các nước đang phát triển để đối phó với BĐKH. Tuy nhiên những thông tin gần đây cho thấy những nước giàu đã lờ đi khoản tiền này. Gần đây Tổng thư kí Liên Hiệp Quốc cũng đã lên tiếng chỉ trích các nước giàu vì đã lãng quên lời hứa. Bình luận của ông Ngọc với tư cách là giám đốc Actionaid như thế nào?
Ông Phan Văn Ngọc: Theo tôi cam kết đó là có thực. Nhưng chưa thành một công ước bắt buộc các nước phải theo. Hay nói cách khác, các nước long trọng cam kết nhưng chưa có hình thức ràng buộc và anh không theo thì làm thế nào?
Cũng xin nói thêm, đến Copenhaghen lần này, tất cả các nước phải có ràng buộc bắt buộc về mặt pháp lí và bất kì một cam kết nào được kí kết ở Copenhaghen phải theo thì vấn đề này vẫn là nóng bỏng. Nói như thế nghĩa là cam kết họ vẫn cam kết, nhưng việc bắt buộc các nước có làm hay không là một dấu chấm hỏi.
Ở trên trường quốc tế cho đến hôm nay có rất nhiều hiệp định, không riêng gì hiệp định BĐĐH, họ vẫn kí nhưng họ có quyền lờ đi bởi vì chưa có bất kì một hiệp định bắt buộc ràng buộc nào về mặt pháp lý.
Thậm chí ở Copenhaghen tôi cho rằng chưa chắc đã đạt được cái ràng buộc bắt buộc về mặt pháp lý. Vì vậy trên bình diện quốc tế những việc cam kết nó không thành hiện thực vẫn cứ xảy ra.
GS Trương Quang Học: Ý kiến của anh Ngọc rất quan trọng. Tôi lấy ví dụ nghị định Kyoto ta đã kí năm 1997, nhưng mãi đến 2005 mới có một cơ sở pháp lý quốc tế để thực hiện. Chỉ khi nào có sự ràng buộc về mặt pháp lý thì tính khả thi mới cao.
---
Mời các bạn đón đọc phần 2 về Việt Nam trong ứng phó với biến đổi khí hậu.
In Email Thảo luận





