Khoa học và công nghệ: từ Tây sang Đông

Xem tin gốc 

SaigonTimes - 3 tháng trước 8 lượt xem 1 tin đăng lại

(TBKTSG) - “Khoa học không có công nghệ chỉ là khoa học tháp ngà, và công nghệ không có khoa học chỉ là công nghệ hạ tầng”.

Trương Văn Tân

Khều.

Khẩu hiệu “kỹ thuật lập quốc” của Nhật Bản

Đầu thế kỷ 19, trước sức mạnh cơ khí của phương Tây, người Nhật Bản và người Trung Hoa có phản ứng hoàn toàn khác nhau. Vua quan nhà Thanh vẫn chưa thức tỉnh do tư tưởng bảo thủ, bài ngoại và tinh thần hủ nho thâm căn cố đế, tự cao tự đại xem mọi kỹ thuật như một phường xảo thuật.

Trong khi đó, Shimazu Nariakira, một phiên chủ (tương đương lãnh chúa) đương thời của một tỉnh ở Nhật Bản, nhận thấy sức mạnh của khoa học kỹ thuật phương Tây nên gấp rút canh tân. Ông mở một công xưởng để luyện thép, chế tạo súng ống, súng thần công. Ông bắt chước phương Tây chế tạo tàu chạy bằng hơi nước, gắn súng thần công biến thành chiến hạm giao tranh với người Anh. Ông còn mời các nhà Lan học (ran-gaku, tiền thân các nhà khoa học Nhật Bản) chuyên về cơ khí, vật lý, hóa học, sáng chế các dụng cụ truyền thông, chế tạo thủy tinh, nghệ thuật ấn loát, các loại tơ sợi may mặc và thuốc súng. Có lẽ đây là lần đầu tiên sự tương quan giữa khoa học hiện đại và công nghệ được phát huy triệt để ở phiên trấn xa xôi của một nước phương Đông.

Tầm nhìn thực dụng của Shimazu Nariakira đã mở ra một thời đại khoa học công nghệ kéo dài đến hôm nay, cho ra những sản phẩm mang thương hiệu đầy uy tín “made in Japan”.

Một trăm năm sau, khoa học và công nghệ Nhật Bản vẫn song hành và bổ túc cho nhau. Một mặt, có Yukawa Hideki là người Nhật đầu tiên đoạt giải Nobel vật lý (1949). Mặt khác, những nhà công nghệ lỗi lạc như Honda Soichiro (nhà sáng lập hãng xe Honda) và Matsushita Konosuke (nhà sáng lập hãng điện tử Panasonic) xuất thân bần hàn và trình độ học vấn ở cấp tiểu học đã làm kinh ngạc thế giới khi cho ra đời những sản phẩm chất lượng. Những nhân vật kiệt xuất như vậy giúp Nhật Bản trỗi dậy từ đống tro tàn chiến bại. Họ nhanh chóng thay đổi khẩu hiệu “phú quốc cường binh” của Minh Trị Duy Tân đưa đến chủ nghĩa quân phiệt bằng khẩu hiệu “kỹ thuật lập quốc” ở thập niên 60 của thế kỷ trước, ngẩng đầu bước tiếp cuộc hành trình dựng nước bằng khoa học kỹ thuật.

Khoa học cơ bản hay thực dụng?

Tại Mỹ, theo đà phục hồi của nền kinh tế sau Thế chiến thứ hai, các công ty lớn như AT&T Bell Labs, Du Pont, Xerox, Lockheed Martin, Eastman Kodak, IBM, Texas Instruments... đã tạo ra những thiên đàng nghiên cứu cơ bản. Ban quản lý cho phép các nhà khoa học R&D làm nghiên cứu tự do với dòng kinh phí hầu như bất tận từ lợi nhuận dồi dào của công ty. Đây là thời kỳ vàng son của các nhà khoa học làm việc cho các công ty tư nhân với sự tự do tuyệt đối trong nghiên cứu và đồng lương hậu hỷ.

Một khoa học gia từng làm việc tại Bell Labs trong thập niên 70 của thế kỷ trước hồi tưởng, “Bell Labs là một nơi tuyệt vời. Công ty chọn những người ưu tú vào làm việc rồi vui vẻ bảo: các cậu muốn làm gì thì làm, chúng tôi không can dự” [6]. Nghe như nằm trong mơ. Kết quả là AT&T Bell Labs lừng danh thế giới, bao nhiêu nhân tài thế giới tập trung về đây như một vùng đất hứa. Các nhà nghiên cứu ở Bell Labs không ngừng khám phá và những thành quả được đăng trên các tạp chí khoa học quyền uy, thậm chí có đến 13 người đoạt giải Nobel. Chưa có một viện R&D tư nhân nào trên thế giới có thành tích nghiên cứu khoa học cơ bản xuất sắc như Bell Labs.

Nhưng có một hệ quả khác, là rất ít những thành quả khoa học tạo ra ảnh hưởng lớn đến việc làm ăn trong ngành viễn thông của hãng mẹ AT&T. Khi sự cạnh tranh trên thương trường trở nên quyết liệt với áp lực từ bên trong cũng như ngoài nước Mỹ, những chuyện thế tục liên quan đến “cơm áo gạo tiền” và sự sống còn của công ty trở nên cấp bách. Tương tự, vài phân bộ sản xuất của Eastman Kodak giờ đây đi đến bờ phá sản. Các tập đoàn doanh nghiệp Mỹ buộc phải tái cấu trúc để cân bằng việc sản xuất và nghiên cứu.

Sau những năm dài mê đắm trong nghiên cứu cơ bản, thời đại vàng son của chủ nghĩa tự do và tùy hứng trong nghiên cứu khoa học chấm dứt. Dù không còn sự hào phóng của các công ty Mỹ như vài thập niên trước, hiện nay ở một chừng mực nào đó chính phủ tại một số quốc gia cũng dành một khoản lớn kinh phí cho các đề tài nghiên cứu cơ bản để nâng cao trình độ khoa học. Các nhà nghiên cứu và giáo sư đại học có nhiều tự do trong nghiên cứu cơ bản như giải một định đề toán học, tiên đoán sự hiện hữu của một vi hạt, khám phá ra một thiên hà mới, bản chất của lỗ đen vũ trụ, tổng hợp một hợp chất hóa học có cấu trúc tuyệt đẹp... với một cứu cánh là phổ biến những khám phá của mình trên các tạp chí chuyên ngành mang tăm tiếng đến cho bản thân mình và cho nơi làm việc.

Khi phê bình thành quả giáo dục, khoa học và công nghệ của một nước mà chỉ theo thói quen hàn lâm liệt kê số bài báo hàng năm đăng trên tạp chí chuyên ngành, đánh giá mức độ nổi tiếng hay tầm thường của các tạp chí bằng những chỉ số phức tạp, thì e rằng còn khập khiễng, chưa toàn diện.

Nhưng Einstein đã từng nói: “Sự quan tâm về con người và số phận của con người lúc nào cũng phải là một mục tiêu trong tất cả mọi nỗ lực của khoa học kỹ thuật. Đừng bao giờ quên rằng yếu tố này nằm đâu đó giữa những biểu đồ và công thức của bạn”. Mọi nghiên cứu không chỉ dừng ở điểm thỏa mãn sự hiếu kỳ hàn lâm. Tri thức khoa học chỉ thực sự có giá trị nhân sinh và xã hội khi được tận dụng để tạo ra vật chất, sản phẩm, đóng góp vào việc kiến thiết hạ tầng cơ sở, nâng cao mức sống người dân, nền kinh tế quốc dân và an ninh quốc phòng.

Những công viên công nghiệp (industrial parks) không ngừng mọc lên để đưa các thành quả nghiên cứu hàn lâm đi một bước xa hơn tạo ra vật chất, dụng cụ tiện ích cho đời thường. Sự thành bại của các ứng dụng đưa đến sản phẩm tùy thuộc vào sự am tường, bén nhạy, cập nhật và biết chọn lọc của các nghiên cứu viên đối với kho tàng các thành tựu của nghiên cứu cơ bản. Mô hình hợp tác giữa Đại học Stanford và Thung lũng Silicon trong việc chế tạo những loại mạch tích hợp đã đóng góp rất lớn trong cuộc cách mạng tin học và điện tử là một thí dụ.

Từ Tây sang Đông

Công nghệ ngày nay là yếu tố nổi bật cho sự sống còn của một quốc gia. Sự cạnh tranh trên thương trường càng lúc càng trở nên khốc liệt. Doanh nghiệp phải chọn lựa tiềm năng ứng dụng của một phát minh và cân bằng sự đầu tư tốn kém của các đề án nghiên cứu. Các cơ quan nghiên cứu khoa học quốc gia phải tạo thành quả cụ thể và xứng đáng với tiền thuế của nhân dân. Nhà nước phải nhạy cảm với xu thế của thời đại và nhu cầu đất nước để có chính sách định hướng thích hợp cho các đề án nghiên cứu hay tài trợ R&D cho doanh nghiệp.

Phác thảo một đạo luật, thực thi một chính sách, đưa ra một chiến lược để triển khai sản phẩm phức tạp hơn nhiều so với việc thực hiện thí nghiệm hay xuất bản một bài báo cáo. Vì vậy, khi phê bình thành quả giáo dục, khoa học và công nghệ của một nước mà chỉ theo thói quen hàn lâm liệt kê số bài báo hàng năm đăng trên tạp chí chuyên ngành, đánh giá mức độ nổi tiếng hay tầm thường của các tạp chí bằng những chỉ số phức tạp, thì e rằng còn khập khiễng, chưa toàn diện. Để có cái nhìn tổng thể, chúng ta nên đề cập sự quản lý tri thức, việc đầu tư của chính phủ vào giáo dục, khoa học công nghệ, chính sách phát triển lâu dài của nhà nước, sự liên thông giữa doanh nghiệp và đại học, giá trị gia tăng (value added) và doanh thu của sản phẩm công nghệ như là thành quả của công trình khoa học.

Hàn Quốc học tập mô hình Nhật Bản và sự phát triển của các nước phương Tây, đã đưa trình độ khoa học công nghệ của mình vào những nước hàng đầu thế giới. Thức tỉnh sau bài học của “trăm năm ô nhục” chiến tranh nha phiến và ba thập niên bị phí phạm cho đấu tranh giai cấp, Trung Quốc đang nỗ lực tập trung đầu tư liên tục vào khoa học công nghệ với những khoản tiền khổng lồ và kế hoạch phát triển lâu dài. Quốc đảo Singapore thực hiện chính sách thu hút nhân tài toàn cầu với những đãi ngộ hậu hỷ, thiết lập những trung tâm nghiên cứu khoa học và R&D đẳng cấp thế giới nhằm phát triển nền kinh tế dựa trên khoa học và tri thức, biến quốc đảo thành giao điểm Đông-Tây của khoa học công nghệ thế giới. Giờ đây, người ta nói đến Singapore với sự tôn trọng và kính phục.

Thế giới đang đi rất nhanh trong việc kết hợp khoa học và công nghệ. Người ta tiên đoán trọng tâm của nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ đang di chuyển về phương Đông. Trong bối cảnh suy sụp kinh tế phương Tây mà một trong những hệ quả nghiêm trọng là việc cắt giảm kinh phí trong giáo dục, khoa học công nghệ, sự tiên đoán này càng chính xác hơn và đang lừng lững trở thành hiện thực. Trong xu thế mãnh liệt thổi về Đông, liệu Việt Nam sẽ hòa nhập theo luồng gió để bay lên hay bị cơn lốc đẩy ra ngoài như một nước nhược tiểu ngoại vi? Rất cần nhà lãnh đạo có tầm nhìn cho tiền đồ của nền giáo dục, khoa học và công nghệ đất nước, vì “ở nơi không có tầm nhìn, con người sẽ diệt vong”.


Tin đọc nhiều

Chưa có bình luận nào

Hãy đăng ký hoặc đăng nhập để tham gia bình luận.

Về đầu trang