CôngThương - Diễn đàn có sự tham gia của khoảng 300 đại biểu của nhiều Bộ, Ngành ở Trung ương, các cơ quan hoạch định chính sách, ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố có khu kinh tế ven biển… Đây là sự kiện có ý nghĩa quan trọng và phù hợp trong bối cảnh của đất nước nói chung và sự phát triển của tỉnh Quảng Ngãi nói riêng trong nỗ lực vươn ra làm chủ biển cả và hải đảo một cách bền vững. Đồng thời, sẽ thúc đẩy xây dựng, lồng ghép vấn đề thương hiệu biển vào chiến lược phát triển kinh tế biển nói chung và các chiến lược, kế hoạch phát triển của từng ngành, từng địa phương và từng doanh nghiệp nói riêng.
Mục tiêu của diễn đàn không nằm ngoài mục đích tiếp tục quảng bá và phát triển thương hiệu biển Việt Nam, góp phần thực hiện Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020; tạo lập một diễn đàn để các bộ, ngành, lãnh đạo các tỉnh và ban quản lý các khu kinh tế, các cơ quan chức năng, các nhà nghiên cứu trao đổi ý kiến, giới thiệu kết quả nghiên cứu, đồng thời cung cấp những thông tin về chiến lược biển và phát triển các khu kinh tế ven biển của Việt Nam trong thời kỳ hội nhập; góp phần quảng bá những thành tựu về kinh tế - xã hội của tỉnh Quảng Ngãi và về khu kinh tế (KKT) Dung Quất, trong đó có cảng nước sâu, nhằm thu hút và kêu gọi đầu tư.
Tiềm năng... có, xây dựng thương hiệu... khó!
Đến nay, 9/14 KKT là: Chu Lai, Dung Quất, Nhơn Hội, Nghi Sơn, Vũng Áng, Chân Mây – Lăng Cô, Vân Phong, Vân Đồn, Nam Phú Yên đã cơ bản hoàn thành các công tác quy hoạch chung, quy hoạch chi tiết các phân khu chức năng và đang tiến hành đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng kỹ thuật - xã hội, xây dựng các khu tái định cư. Các KKT khác hiện đang trong giai đoạn xây dựng quy hoạch, chuẩn bị và hoàn thiện bộ máy và nhân sự, chuẩn bị các điều kiện tiền đề cho việc lập dự án và huy động vốn đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, triển khai công tác đền bù giải phóng mặt bằng các khu chức năng. Tính đến hết năm 2009, các KKT đã thu hút được 550 dự án trong nước và nước ngoài với tổng vốn đầu tư 24.415,9 triệu USD và 294.157 tỷ đồng. Trong đó, có một số dự án lớn và quan trọng tại các KKT như: các nhà máy lọc dầu ở các KKT Nghi Sơn, Dung Quất và Nam Phú Yên; các nhà máy đóng tàu ở các KKT Nghi Sơn, Dung Quất; nhà máy thép Quảng Liên, Khu liên hợp gang thép và cảng nước sâu Sơn Dương, nhà máy cơ khí công nghiệp nặng Doosan, các nhà máy nhiệt điện tại các KKT Nghi Sơn, Vũng Áng, Dung Quất, Định An. Ngoài ra, dự án kênh quan Chánh Bố (Định An), cảng trung chuyển quốc tế Vân Phong, sân bay Phú Quốc cũng đang khẩn trương triển khai đầu tư xây dựng.
Hiện nay nước ta có 14 KKT, gồm 2 KKT ở vùng Đồng bằng sông Hồng là: Vân Đồn (Quảng Ninh) và Đình Vũ - Cát Hải (Hải Phòng), 10 KKT ở vùng duyên hải miền Trung là Nghi Sơn (Thanh Hóa), Đông Nam Nghệ An (Nghệ An), Vũng Áng (Hà Tĩnh), Hòn La (Quảng Bình), Chân Mây-Lăng Cô (Thừa Thiên - Huế), Chu Lai (Quảng Nam), Dung Quất (Quảng Ngãi), Nhơn Hội (Bình Định), Vân Phong (Khánh Hòa) và Nam Phú Yên (Phú Yên) và 2 KKT ở miền Nam là KKT đảo Phú Quốc và cụm đảo Nam An Thới (Kiên Giang), Định An (Trà Vinh). Tổng diện tích mặt đất và mặt nước biển của 14 KKT là 627.633 ha.
Sau năm 2010 sẽ thành lập KKT Năm Căn (Cà Mau) và tiếp tục đầu tư phát triển theo quy hoạch, kế hoạch phát triển đã được điều chỉnh, bổ sung đối với 14 KKT ven biển đã được thành lập trước năm 2010.
Hiện tại, một số dự án lớn và quan trọng tại các KKT đã hoàn thành và đi vào hoạt động như Nhà máy Lọc dầu số 1, Nhà máy đóng tàu, Nhà máy cơ khí nặng Doosan tại KKT Dung Quất, sân bay Chu Lai, Nhà máy ô tô Trường Hải tại KKT mở Chu Lai, các nhà máy xi măng tại KKT Nghi Sơn,... góp phần đáng kể cho việc tăng năng lực sản xuất trong ngành công nghiệp và phát triển kinh tế vùng.
Trong “Chiến lược biển Việt Nam đến 2020” đã xác định 5 ngành, lĩnh vực đột phá đó là: Khai thác, chế biến dầu, khí; kinh tế hàng hải; khai thác và chế biến thủy, hải sản; du lịch biển và kinh tế hải đảo; các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất ven biển gắn với các khu đô thị dọc dải ven biển. Theo đại diện của Vụ Quản lý các khu kinh tế (Bộ Kế hoạch & Đầu tư), để thực hiện thành công 5 ngành, lĩnh vực nói trên, việc gắn kết giữa các ngành, lĩnh vực trong kinh tế biển được đặt ra như là một yếu tố khách quan nhằm hỗ trợ, bổ sung lẫn nhau để phát triển đồng bộ và có hiệu quả; trong đó, các ngành kinh tế hàng hải, khai thác chế biến dầu, khí gắn với việc phát triển các khu công nghiệp lớn ven biển được coi là ngành, lĩnh vực có lợi thế lớn hàng đầu trong kinh tế biển.
Tuy các sản phẩm hàng hóa, dịch vụ từ biển, liên quan đến biển của Việt Nam khá nhiều, song những sản phẩm và dịch vụ mà tên của nó trở nên nổi tiếng, được ghi nhớ và thừa nhận thì chưa nhiều, chưa thành những “thương hiệu” lớn. Theo PGS.TS Vũ Sĩ Tuấn – Cục trưởng Cục Quản lý, khai thác biển và hải đảo: Nguyên nhân chính của tình trạng thiếu những thương hiệu lớn về biển là chúng ta chưa trải qua nền kinh tế thị trường, mà đang trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường.
Mặc dù kinh tế biển và vùng ven biển Việt Nam bình quân đạt khoảng 47% - 48% GDP cả nước, nhưng kinh tế “thuần biển” chỉ đạt khoảng 20% -22% tổng GDP cả nước và trong đó, đóng góp của các ngành kinh tế diễn ra trên biển chiếm tới 98%, chủ yếu là khai thác dầu khí, hải sản, hàng hải (vận tải biển và dịch vụ cảng biển), du lịch biển. Còn các ngành kinh tế có liên quan trực tiếp tới khai thác biển như đóng và sửa chữa tàu biển, chế biến dầu khí, chế biến thủy, hải sản, thông tin liên lạc… mới chỉ chiếm khoảng 2% kinh tế biển và 0,4% tổng GDP cả nước.
Thực trạng và những khó khăn trên đã ảnh hưởng rất lớn đến phát triển kinh tế biển và xây dựng thương hiệu biển. Kinh tế biển không phát triển, không thể có những sản phẩm nổi tiếng trở thành thương hiệu lớn; ngược lại không có nhiều sản phẩm, thương hiệu danh tiếng, kinh tế biển cũng không thể phát triển mạnh. Ông Vũ Sĩ Tuấn chia sẻ thêm: Điều này cũng giải thích tại sao, một đất nước có hơn 3000 km bờ biển với diện tích vùng đặc quyền kinh tế biển lớn hơn 3 lần diện tích đất liền như nước ta nhưng lại chỉ có doanh thu từ biển khoảng hơn 10 tỷ USD, so với 33 tỷ của Hàn Quốc, 468 tỷ USD của Nhật và 1.300 tỷ USD toàn cầu. Dù diện tích gấp 50 lần, dân số gấp 16 lần, có bờ biển dài gấp gần 40 lần Singapore, nhưng chúng ta không có cảng nào có thể so sánh được với Changi, vì thế không thể cạnh tranh được dịch vụ vận tải quốc tế bằng đường biển. Số lượng hàng hóa thông qua các cảng của Việt Nam trên đầu người chỉ bẳng 1/5 của Thái Lan, 1/7 của Malaysia và 1/140 của Singapore.
Chúng ta có hơn 100 bãi biển đẹp nhưng lại rất thiếu các sản phẩm du lịch biển độc đáo, đặc sắc, mang tính cạnh tranh cao và chưa có một khu du lịch tổng hợp nào đạt trình độ quốc tế. Nhiều người nước ngoài làm việc tại Việt Nam nhưng vẫn nghỉ cuối tuần tại Phuket (Thái Lan) hay Bali (Indonesia) dù những bãi biển này không đẹp bằng các bãi biển Nha trang, Đà Nẵng, Phú quốc hay Vân Đồn. Hàng triệu km2 đặc quyền kinh tế mà chỉ đem lại khoảng 3 tỷ USD xuất khẩu hải sản một năm; đi nhiều nơi trên thế giới, khó mà tìm được những sản phẩm biển nổi tiếng “Made in Vietnam” được bày bán trong các siêu thị.... Các nước chưa tìm thấy ở Việt Nam những con tàu lớn, những công nghệ đóng tàu hiện đại, những cảng trung chuyển quốc tế, những bãi tắm nổi tiếng và một ngành công nghiệp biển hiện đại. Nói cách khác là biển của chúng ta mới ở dạng tiềm năng.
Dung Quất với vai trò một cảng nước sâu quan trọng
Kể từ khi cảng biển nước sâu Dung Quất và Khu công nghiệp Dung Quất (nay là Khu kinh tế Dung Quất) với “trái tim” là nhà máy lọc dầu Dung Quất được triển khai đã cho thấy sự thu hút đầu tư và phát triển kinh tế xã hội của miền Trung theo hướng phát triển hệ thống cảng biển đi trước một bước. Kéo theo đó là sự hình thành các khu công nghiệp, các khu kinh tế và đô thị mới cùng với các dự án đầu tư cực lớn là một thực tiễn khách quan và đúng quy luật. Có thể nói, cảng Dung Quất, KKT Dung Quất cùng sân bay Chu Lai đã tạo nên một tổ hợp phát triển chiến lược ở miền Trung và khu vực. Nơi đây có vịnh Dung Quất kín gió, độ sâu lý tưởng - 20m, đủ khả năng xây dựng một cảng lớn với công suất 100 triệu tấn/năm và có thể đón tàu trọng tải đến 200.000 tấn.
Các đại biểu thăm quan triển lãm: Quảng Ngãi - Hoàng Sa - Trường Sa, lịch sử chủ quyền biển đảo Việt Nam" trong khuôn khổ diễn đàn.
Từ Dung Quất đến trục Quốc lộ 1A và đường sắt xuyên Việt là 12,5 km - khoảng cách tối ưu dễ dàng tạo cho Dung Quất trở thành một cửa ngõ lớn để vận chuyển hàng hóa đến các miền trong đất nước. Đây cũng là cửa ngõ cho việc xuất, nhập hàng hóa của vùng Tây Nguyên, tạo điều kiện cho vùng này phát triển, đồng thời làm cho Tây Nguyên được tiếp cận nhiều hơn với bên ngoài và phát triển nhanh hơn. Đến nay, đã có 140 dự án được chấp thuận đầu tư vào Khu kinh tế Dung Quất với tổng vốn đăng ký khoảng 10,3 tỷ USD, trong đó có 113 dự án được cấp chứng nhận đầu tư với tổng vốn đăng ký 7,95 tỷ USD; số vốn thực hiện hơn 4,3 tỷ USD; có 53 dự án đầu tư đi vào hoạt động sản xuất, kinh doanh, giải quyết việc làm cho gần 12.000 lao động. Chỉ riêng trong năm 2009; giá trị sản xuất công nghiệp, thương mại, dịch vụ tại Khu kinh tế Dung Quất đạt 6.500 tỷ đồng, trong đó nhà máy lọc dầu đạt 3.740 tỷ đồng, Doosan đạt 1.020 tỷ đồng, nhà máy đóng tàu đạt 980 tỷ đồng; kim ngạch xuất khẩu đạt 120 triệu USD (chiếm 66% tổng kim ngạch xuất khẩu của tỉnh); thu ngân sách trên địa bàn KKT Dung Quất đạt 2.800 tỷ đồng (chiếm gần 69% tổng thu ngân sách trên địa bàn tỉnh).
Điều đáng chú ý là các hoạt động đầu tư thời gian qua tại KKT Dung Quất chủ yếu tập trung vào các dự án công nghiệp nặng (chiếm trên 92% tổng vốn đầu tư với 11 dự án, tổng vốn đăng ký đầu tư hơn 6,99 tỷ USD) với đặc trưng là hoạt động đầu tư nhà máy luôn đi kèm với xây dựng cảng chuyên dụng để vận chuyển, chuyên chở nguyên, vật liệu, sản phẩm có khối lượng, kích thước lớn. Trong điều kiện thị trường tiêu thụ các sản phẩm công nghiệp của miền Trung tương đối thấp, lại cách xa các vùng thị trường lớn như TP.Hồ Chí Minh, Hà Nội, nếu Dung Quất không có các vị trí thuận lợi để xây dựng cảng biển nước sâu thì chắc chắn việc xúc tiến, thu hút đầu tư vào khu vực này sẽ gặp rất nhiều khó khăn và khó có thể đạt được những thành tựu như thời gian qua. Nói như ông Kim Jae Young – Phó tổng giám đốc Công ty Doosan Vina – doanh nghiệp tiên phong trong việc xây dựng cảng nước sâu tại Dung Quất: “Các cảng chuyên dụng cho phép chúng tôi xây dựng và vận chuyển các sản phẩm một cách thuận tiện, thông suốt và chi phí hiệu quả nhằm giải quyết được việc bốc dỡ, vận chuyển và lắp đặt hàng hóa”.
Hy vọng rằng, sau Diễn đàn Thương hiệu biển Việt Nam lần thứ II, các KKT biển sẽ học hỏi, rút ra được nhiều kinh nghiệm, phấn đấu thực hiện được mục tiêu: Đến năm 2020, kinh tế biển và ven biển đóng góp khoảng 53% - 55% tổng GDP và 60% kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước như Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 đã đề ra.
Phương Tư Oanh