Khép lại kỳ án “Huyệt trai trinh” ở Hà Đông

Nhà báo & Công luận - 

(CL)- Mấy năm qua, báo chí dành nhiều quan tâm đến vụ 3 thanh niên bị kết án hiếp dâm, cướp tài sản được Lương y Phạm Thị Hồng xem huyệt Dương minh, xác định chưa quan hệ với phụ nữ, và tích cực đi “kêu oan” cho họ. Sau đó, Viện trưởng VKSNDTC kháng nghị và trả tự do cho ba bị án…

Ba bị án, bà Hồng và luật sư trong buổi giao lưu ở Báo TP.

Thế nhưng, vừa qua, Hội đồng Thẩm phán TANDTC đã xem xét toàn diện vụ án, kết luận các bị án có tội, khép lại nhiều ngộ nhận xung quanh vụ án nói chung và “huyệt trai trinh” của Lương y Hồng nói riêng.

Lương y thăm khám, bản án được kháng nghị

Cuối tháng 12-2006, bị án Nguyễn Đình Lợi bị liệt nửa người, được đưa ra chữa trị tại Bệnh viện đa khoa Hà Đông. Tại đây, bà Hồng xem huyệt Dương minh, dưới dái tai thấy sáng rõ, nên bà Hồng khẳng định Lợi chưa từng quan hệ tình dục với phụ nữ. Như vậy là bị án bị oan, bà Hồng liền tìm hiểu vụ án.

Lợi (Nguyễn Đình Kiên) sinh năm 1980 cùng với Nguyễn Đình Tình sinh năm 1981, Nguyễn Đình Kiên, sinh năm 1980, cùng ở thôn Nghĩa Lộ, xã Yên Nghĩa, Hoài Đức, Hà Tây (nay là Hà Nội) bị kết án vì hành vi cướp tài sản và hiếp dâm. Theo các bản án, khoảng 20 giờ 30 phút ngày 24-10-2000, ba thanh niên này rủ nhau đi cướp tài sản. Bọn chúng đã cướp tiền, đồng hồ, khuyên tai… của đôi trai gái và hiếp dâm cô gái. Với các hành vi phạm tội đó, tại Bản án số 11/HSST ngày 21-1-2002, Tòa án tỉnh Hà Tây đã kết án Lợi, Tình và Kiên về hai tội là “Cướp tài sản” và “Hiếp dâm”. Xử phạt Lợi 16 năm tù; Tình 14 năm tù; Kiên 11 năm tù. Tại Bản án phúc thẩm số 583/PTHS ngày 22-4-2002, Tòa phúc thẩm TANDTC tại Hà Nội đã giữ nguyên bản án sơ thẩm về phần tội danh, hình phạt đối với cả 3 bị cáo.

Với niềm tin mãnh liệt vào khả năng chuyên môn của mình, cộng với phẩm chất thích làm những việc nhân nghĩa, bà Hồng đã dấn thân vào vụ án, trực tiếp làm đơn kêu oan thay cho ba thanh niên, gửi đến 36 cơ quan Nhà nước. Cuối cùng, ngày 26-1-2010, Viện trưởng VKSNDTC đã ký Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 02/QĐ-VKSTC-V3, đề nghị Hội đồng Thẩm phán TANDTC tuyên bố ba bị án không phạm tội và đình chỉ vụ án.

Xem xét kháng nghị giám đốc thẩm

Quyết định kháng nghị giám đốc thẩm số 02/QĐ-VKSTC-V3 ngày 26-1-2010, Viện trưởng VKSNDTC nêu lên 9 lý do. Trước tính chất phức tạp của vụ án, với tinh thần cải cách tư pháp, không làm oan sai người không phạm tội và không bỏ lọt tội phạm, Tòa án nhân dân tối cao đã thận trọng, trả hồ sơ và đình hoãn phiên giám đốc thẩm nhiều lần. Cuối cùng, phiên xét xử giám đốc thẩm ngày 7-12 vừa qua, 9 nội dung kháng nghị nêu ra đã được xem xét thấu đáo.

Thứ nhất, kháng nghị của VKSNDTC nêu lời khai có mâu thuẫn của các bị cáo về hành vi của từng tên, rồi tuần tự hành vi, Hội đồng Thẩm phán TANDTC xem xét và thấy rằng, các bị cáo đều khai thống nhất về thời gian và địa điểm gây án. Đối tượng bị tấn công là một nam, một nữ, việc cướp tài sản diễn ra sau khi các bị cáo đã tách hai người ra hai nơi. Về tài sản chiếm đoạt được của anh CH khoảng hơn 300.000 đồng và một ví da; của chị HH, đồng hồ, nhẫn vàng và khuyên tai.

Thứ hai, về hành vi hiếp dâm, Nguyễn Đình Kiên có 12 lời khai liên quan đến việc hiếp dâm, trong tất cả các lời khai đều thừa nhận cả 3 bị cáo đều thực hiện hành vi hiếp dâm chị HH theo thứ tự Lợi, Kiên, Tình. Lợi có 13 lời khai cũng thừa nhận 3 bị cáo cùng thực hiện hành vi hiếp dâm, Lợi là người đầu tiên. Còn Tình có 7 lời khai liên quan, thừa nhận hành vi hiếp dâm...

Thứ ba, về hung khí gây án, Lợi có 14 lời khai liên quan, 4 lời khai đầu khai hung khí gồm dao, gậy, tuýp sắt, điếu cày. 9 lời khai sau khai có dao, gậy, tuýp sắt, điếu cày. Tình có 7 lời khai, 5 lời đầu khai hung khí là điếu cày, dao, gậy. 2 lời khai sau có dao, điếu cày và tuýp sắt. Nguyễn Đình Kiên có 11 lời khai đều khẳng định hung khí gồm dao, gậy gỗ, điếu cày.

Thứ tư, về điểm xuất phát và hướng thoát khỏi hiện trường, cả 3 bị cáo đều khai xuất phát từ cầu Hai Cây. Lợi có 13 lời khai liên quan đến hướng đi xuyên suốt cả quá trình điều tra. Kiên có 12 lời khai. Tình có 6 lời khai. Bị hại khai, khi đang ngồi tâm sự bên bờ mương thì có 3 thanh niên đi tới từ hướng Yên Nghĩa, sau đó đi sang bờ mương phía Dương Nội, tiến đến cướp tài sản và hiếp chị HH.

Như vậy, trong tất cả các lời khai của mình, Lợi đều khai thống nhất về hướng đi gây án. Tình và Kiên lúc đầu khai không thống nhất nhưng sau đó đều trùng với lời khai của Lợi và phù hợp với lời khai của bị hại.
Về hướng đi khỏi hiện trường, lời khai của Kiên phù hợp với lời khai của chị HH về việc sau khi gây án một tên chạy về phía đơn vị bộ đội. Lợi và Tình khai chạy theo ven bờ mương, theo bản án thì là ruộng lúa.

Thứ năm, về hiện trường vụ án, lời khai của người bị hại, người làm chứng và các bị cáo phù hợp với nhau về nơi xảy ra vụ án là đoạn bờ mương bị đứt thuộc xã Dương Nội, quãng đối diện với các đơn vị bộ đội A40 và M5.

So sánh giữa Biên bản khám nghiệm hiện trường và Biên bản xác định hiện trường thì thấy, tuy Cơ quan điều tra có sai sót trong việc xác định ranh giới hành chính khi khám nghiệm hiện trường (ghi sai tên xã) và phương pháp xác định hiện trường, xác định tâm điểm để so sánh, nhưng các tài liệu điều tra đều phù hợp nhau về hiện trường cụ thể của vụ án.

Thứ sáu, về vật chứng của vụ án, các lời khai tuy có chi tiết khác nhau về màu sắc chiếc áo nhưng đều thống nhất về 4 màu trên chiếc áo. Qua nhận dạng, các bị cáo Kiên, Lợi và người làm chứng Trần Văn Cường nhận ra đây là áo của Lợi. Như vậy có cơ sở kết luận, duy nhất chỉ có một chiếc áo phông là vật chứng của vụ án, do người phạm tội để lại hiện trường.

Về việc giao nộp chiếc áo, trong hồ sơ vụ án không thể hiện, như vậy là có vi phạm về thủ tục tố tụng trong việc nhận dạng áo như kháng nghị đã nêu.

Thứ bảy, về bức thư của Nguyễn Đình Lợi viết cho bố mẹ, kháng nghị nêu có các sai sót về nguồn gốc, trình tự, thủ tục thu thập tài liệu này là đúng. Tuy nhiên, Lợi thừa nhận lá thư do Lợi viết, nên việc Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm đánh giá bức thư như một nguồn chứng cứ là có căn cứ.

Thứ tám, về Biên bản nhận dạng bị cáo, biên bản này đã không được lập theo mẫu và có các vi phạm thủ tục tố tụng như kháng nghị đã nêu.

Thứ chín, về tiêu thụ thời gian của các bị cáo, kháng nghị nêu trong thời gian xảy ra vụ án, Kiên, Lợi, Tình đang dự sinh nhật chị Doàn nhưng trong quá trình điều tra, Kiên không khai về dự sinh nhật. Lợi có 20 lời khai, chỉ có lời khai sau cùng là khai có dự sinh nhật chị Doàn, lời khai này Lợi vẫn nhận tội. Tình không khai về tình tiết này chỉ sau khi phản cung, chối tội mới xuất hiện tình tiết này trong 3 lời khai sau cùng. Trong quá trình xét xử, Kiên không khai về việc đi sinh nhật. Lợi khai đi sinh nhật khoảng 21h đến 21h30. Tại phiên phúc thẩm, Tình lại khai xem phim cùng em trai.

Như vậy, lời khai của Tình và Lợi mâu thuẫn nhau và mâu thuẫn với lời khai của từng bị cáo về thời gian dự sinh nhật chị Doàn; mâu thuẫn với lời khai của chị Doàn trong đơn trình bày. Riêng Kiên, không có lời khai nào về việc dự sinh nhật chị Doàn.

Ngoài những nội dung cụ thể, một nội dung báo chí ít nhắc đến, đó là khi bị bắt về tội cướp tài sản (xe đạp), Lợi đã viết bản tự thú về vụ cướp hiếp này chứ không phải bị bắt khi điều tra vụ án đêm 24-10-2000. Sau đó vài ngày, Kiên đang đi bộ đội, được bố đẻ dẫn đến cơ quan pháp luật để đầu thú, có viết lời tự thú về vụ án, có xác nhận của bố đẻ. Hoàn toàn không phải do bị ép, bị bắt nhầm như có lúc dư luận lầm tưởng.

Vì vậy Hội đồng Thẩm phán TANDTC đã quyết định bác kháng nghị của Viện trưởng VKSNDTC, giữ nguyên Bản án phúc thẩm số 583/PTHS ngày 22-4-2002 của Tòa phúc thẩm TANDTC tại Hà Nội và bản án sơ thẩm về phần tội danh, hình phạt đối với cả 3 bị cáo.

Khép lại “huyệt trai trinh”

Trở lại với Lương y Phạm Thị Hồng, trong chương trình giao lưu “Người đương thời” tối 6-8-2010 trên VTV1, bà Hồng cho hay, bà biết huyệt này do đọc sách về cách tuyển chọn cung tần mỹ nữ ngày xưa, nhưng không nói đó là sách gì. Tuy nhiên, giới chuyên môn không ai đồng tình với bà Hồng. Như báo Pháp luật Việt Nam đã dẫn, BS.Trần Văn Bản, Phó Chủ tịch Hội Đông y Việt Nam cho rằng, các sách Đông y kinh điển đều không thấy nhắc tới huyệt Dương minh hay Khuyết âm để phân biệt trinh tiết.

ThS.Đoàn Minh Thụy (Khoa ngoại Nam học, Bệnh viện Tuệ Tĩnh, Học viện Y dược học cổ truyền Việt Nam) - Tổng Thư ký Hội Y học giới tính Việt Nam cũng khẳng định ông đã nhiều năm nghiên cứu, chữa bệnh bằng phương pháp Đông y, song chưa từng tiếp cận tài liệu nào nói về huyệt Dương minh.

TS.Vũ Dương - Viện trưởng Viện Pháp y quốc gia, cũng cho rằng, “tuyệt đối không có chuyện trinh tiết của đàn ông hay đàn bà còn hay mất được thể hiện thông qua các biểu hiện bên ngoài của cơ thể”.

Nhưng không dừng lại với tư cách thầy thuốc, bà Hồng đã làm như một điều tra viên, một luật sư dù bà không có nghiệp vụ này. Bà Hồng đã nhiệt tình nhiều lần đến trại giam gặp ba bị án, gặp nhân chứng, bị hại, đo đạc hiện trường, và kiên trì làm đơn kêu oan cho họ… Cuối cùng, những ngộ nhận, những sai lầm trong chẩn đoán huyệt đạo và việc điều tra, xác minh trái nghề đó, đã được giải đáp thỏa đáng, khép lại “huyệt trai trinh” ly kỳ nhưng không chính xác của người phụ nữ này.

Nhóm P.V