Kẹt thêm cửa Mỹ, tôm biết về đâu

Xem tin gốc 

Nhịp Cầu Đầu Tư - 3 tháng trước 9 lượt xem

Bức thư cảnh báo mà khách hàng Mỹ mới gửi tới Công ty Cổ phần Thực phẩm Sao Ta những ngày đầu năm 2012 đã khiến cho các doanh nghiệp thủy sản Việt Nam lo lắng không yên. Khách hàng này cho biết, trong thời gian tới cơ quan kiểm tra nhập khẩu thuốc và thực phẩm Mỹ (FDA) có khả năng sẽ tăng cường kiểm tra chất kháng sinh enrofloxacin trong tôm nhập khẩu từ Việt Nam.

Báo động đỏ

Vậy là nỗi lo về thị trường Nhật chưa qua thì nguy cơ từ thị trường Mỹ lại đến. Năm 2011, có 57 lô tôm Việt Nam bị cảnh báo và trả về từ Nhật do phát hiện có chứa enrofloxacin vượt ngưỡng cho phép. Do đó, vụ nuôi chính năm 2012 đang đến, các doanh nghiệp xuất khẩu tôm càng đứng ngồi không yên khi các lô hàng bị cảnh báo và trả về không những không giảm mà còn tăng lên.

Ông Hồ Quốc Lực, Chủ tịch kiêm Tổng Giám đốc Sao Ta cho rằng, nguyên nhân khiến phía Mỹ đưa ra quyết định trên là do trong thời gian qua nhiều lô tôm Việt Nam bị phát hiện nhiễm kháng sinh enrofloxacin. Nếu không có biện pháp kịp thời, nhiều doanh nghiệp sẽ phải đóng cửa.

Thực tế, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn cho phép sử dụng hạn chế kháng sinh enrofloxacin và ciprofloxacin trong nuôi tôm. Tuy nhiên thực tế vẫn ở mức cao so với yêu cầu các nước. Trong khi Bộ có hạn chế dư lượng khống chế không vượt 100 ppb (một trăm phần tỉ) thì quy định ở Nhật dư lượng này cho phép dưới 10ppb và Mỹ dưới 1ppb.

Tôm nhiễm kháng sinh bắt nguồn từ vùng nuôi. Theo khuyến cáo của ngành nông nghiệp, người nuôi nên ngưng sử dụng kháng sinh ở mức và hạn chế và phải ngưng sử dụng trước khi bán khoảng 4 tuần. Tuy nhiên, do đầu năm 2011 nhiều vùng nuôi tôm bị dịch bệnh nên lo sợ tôm chết, nhiều hộ nuôi đã sử dụng kháng sinh ở mức quá cao và chỉ ngưng sử dụng trước khi bán chưa tới 1 tuần.

Giải pháp rời rạc

Vấn đề đau đầu nhất của doanh nghiệp trong 2011 vẫn là thủy sản bị nhiễm kháng sinh. Để có được sự an toàn, doanh nghiệp phải đến tận đầm nuôi lấy mẫu đi kiểm tra với chi phí 1 triệu đồng/mẫu. Sau 1 tuần có kết quả, nếu mẫu đạt yêu cầu, doanh nghiệp lại phải giám sát cho đến khi thu hoạch. Tính ra, doanh nghiệp phải tốn một khoản chi phí khá lớn. Mức phí kiểm tra sản phẩm trung bình 5-15 triệu đồng/container. Doanh nghiệp tốn trung bình 1-4 tỉ đồng/năm và còn tốn thêm khoản tiền tương đương cho hoạt động tự kiểm tra, giám sát ngay tại ao đầm của nông dân. Sao Ta cho biết chi phí kiểm tra dư lượng kháng sinh sẽ chiếm 1/3 giá thành.

Thêm vào đó, với mô hình nuôi nhỏ lẻ, phải mất 40-50 ao nuôi mới đủ nguyên liệu cho 1 container xuất khẩu 170 tấn. Nếu kiểm tra từng ao thì doanh nghiệp coi như lỗ, mà gộp các ao nhỏ cùng kiểm tra thì nguy cơ kiểm soát là rất khó, vì có thể 1 số ao nuôi bị nhiễm kháng sinh trộn với những ao sạch.

Nhiều doanh nghiệp tính đến phương án nhập khẩu nguyên liệu theo dạng “tạm nhập tái xuất” để sản xuất. Tuy nhiên, không phải doanh nghiệp nào cũng làm được, thậm chí khi doanh nghiệp được phép nhập khẩu thì nhiều lô hàng bị Hải quan giữ lại nhiều ngày. Do đó, phương án này vừa khiến doanh nghiệp tốn thêm chi phí kiểm tra, kho bãi lại ảnh hưởng đến năng suất hoạt động do phải đóng cửa chờ giải quyết. Có khi, giải quyết xong thì công nhân đã nghỉ việc hết do phải chờ trong thời gian quá lâu.

Nhiều doanh nghiệp lớn tự quy hoạch vùng nuôi nhưng cũng chỉ tự cung cấp được 80%, 20% còn lại cũng phải kiểm soát chặt chẽ, thậm chí cam kết trả giá cao ngay từ đầu. Trước nguy cơ 22.000 ha nuôi tôm của các thành viên thuộc Hiệp hội nuôi tôm Mỹ Thanh không bán được trong vụ tôm 2012, nên ngay từ cuối năm 2011, lãnh đạo Hiệp hội đã sang Singapore, Indonesia để học tập kinh nghiệm nuôi tôm bằng các công nghệ vi sinh để về phổ biến cho các hội viên.

Trong lúc cần tìm ra giải pháp tốt nhất cho tôm thì doanh nghiệp không bằng lòng với cach giải quyết của cơ quan quản lý. Ở chiều ngược lại, cơ quan này lại đổ lỗi cho việc kiểm sót của doanh nghiệp.

Ông Dương Ngọc Minh, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Thủy sản Hùng Vương nhận xét, điều đáng nói là quy định của Việt Nam không kiểm tra ngay từ đầu chất lượng ở các cở sở nuôi trồng, người nuôi trồng mà chỉ mới chú tâm việc kiểm tra ở doanh nghiệp.

Tuy nhiên, ông Nguyễn Như Tiệp, Cục trưởng Cục Quản lý Chất lượng nông lâm thủy sản cho rằng, nếu thị trường xuất khẩu đặt yêu cầu cao về dư lượng kháng sinh doanh nghiệp phải yêu cầu lại người nuôi, phải có trách nhiệm giám sát đầu vào. Theo ông, đã từng xảy ra trường hợp khan hiếm nguyên liệu dẫn đến việc doanh nghiệp tranh mua tôm không phân biệt chất lượng tôm dầu vào. Chính vì vậy, doanh nghiệp cũng cần rà soát lại hoạt động của mình.

Như vậy, bài toán cần một lời giải, song cho tới lúc này tôm Việt Nam vẫn chưa tìm được cửa tháo gỡ.


Chưa có bình luận nào

Hãy đăng ký hoặc đăng nhập để tham gia bình luận.

Về đầu trang