Tính trung bình, khoảng 14 chiếc tàu chở dầu khổng lồ đi qua eo biển Hormuz - nằm giữa Iran và Oman - mỗi ngày. Nếu như Tổng thống Mahmoud Ahmadinejad ra lệnh bắn tên lửa vào một tàu chở dầu trong số đó tất nhiên sẽ tạo ra một thảm họa không lường. Nhưng những lời lẽ đe dọa từ Tehran cũng khá đủ để làm bốc cháy những thị trường thế giới.
Vào đầu tháng 1/2012, giá dầu thô thế giới đã tăng đáng kể đến trên 100 USD/thùng, và cuộc tranh cãi hiện nay về quyền kiểm soát vùng Vịnh Péc-xích là dấu hiệu cho thấy giá dầu sẽ còn tăng nữa. Vào đầu năm 2012, Hải quân Iran đã tiến hành những cuộc tập trận trong khu vực biển vốn là đường vận tải dầu quan trọng nhất thế giới - khoảng 1/3 trong tổng số những chuyến tàu chở dầu thô đi qua eo biển Hormuz. Và Phó tổng thống Mohamed Reza Rahimi của Iran cảnh báo nếu phương Tây áp đặt những biện pháp trừng phạt mạnh hơn chống việc xuất khẩu dầu của nước này thì Tehran sẽ không cho phép "một giọt dầu" nào chảy qua eo biển này.
Vừa khi thế giới bước sang năm 2012, Tổng thống Mỹ Barack Obama đã ký lệnh cấm bất cứ ai có giao dịch với Ngân hàng Trung ương của Iran sẽ không được làm ăn với Mỹ trong tương lai. Mỹ muốn ngăn chặn Tehran thực hiện bất cứ giao dịch nào liên quan đến dầu mỏ. Và 27 quốc gia thành viên của EU tiếp đó cũng quyết định không tiếp tục mua dầu của Iran. Một lần nữa dầu mỏ được dùng làm vũ khí nhưng lần này không chỉ một trong số những quốc gia sản xuất dầu mỏ sử dụng nó mà các quốc gia công nghiệp cũng biến dầu mỏ thành công cụ chống lại Iran. Vấn đề hiện nay là những công cụ chống Tehran - cấm vận và trừng phạt - thật sự có hiệu quả hay không? Và vũ khí dầu mỏ sẽ làm được những gì?
Vũ khí dầu mỏ được sử dụng lần đầu tiên vào mùa hè năm 1967, tức không lâu sau sự bùng nổ cuộc Chiến tranh 6 ngày. Lúc đó, các Bộ trưởng Dầu mỏ Arập họp bàn cách trừng phạt phương Tây và quyết định ngưng bán dầu cho Mỹ và Anh sau khi Israel không kích những mục tiêu ở Ai Cập. Nhưng biện pháp này không có được hiệu quả như mong muốn nên các quốc gia Arập buộc phải dỡ bỏ lệnh cấm này chỉ sau vài ngày thực thi. Lý do là Liên Xô ngay lập tức lấp đầy khoảng trống dầu mỏ mà Arập tạo ra, đồng thời nguồn thu nhập của Arập cũng bị ảnh hưởng nặng nề. Như vậy vũ khí dầu mỏ được sử dụng lần đầu tiên đã thất bại.
 |
| Iran và phương Tây một lần nữa sử dụng dầu mỏ làm vũ khí đối đầu nhau. |
Dầu mỏ được dùng làm vũ khí lần thứ hai vào 7 năm sau đó, tức sau sự bùng nổ cuộc Chiến tranh Yom Kippur vào tháng 10/1973, nhưng nó cũng có tác dụng ngược. Lúc đó, liên minh OPEC quyết định tăng gấp đôi giá dầu thô từ 2,90 USD đến 5,11 USD/thùng. OPEC cũng quyết định giảm 5% sản lượng dầu thô một tháng cho đến khi Israel rút quân khỏi vùng lãnh thổ nước này chiếm đóng năm 1967.
Phản ứng của phương Tây gần như là hoảng loạn và người tiêu thụ bắt đầu lo tích trữ xăng dầu cho phương tiện giao thông và hệ thống lò sưởi. Nhưng nỗi lo sợ thật ra đã bị thổi phồng. Ví dụ nước Đức chỉ thiếu hụt 12 triệu trong số 370 triệu tấn dầu tiêu thụ trong một năm, một con số dễ dàng được bù đắp từ những nguồn khác. Nói khác đi, không có sự đình trệ nào thật sự xảy ra và mặt trận thống nhất của OPEC chống lại phương Tây đã nhanh chóng tan vỡ. Algeria rút khỏi lệnh cấm vận dầu mỏ của OPEC trước tiên, sau đó đến Iraq. Khi vài quốc gia sản xuất dầu mỏ tăng giá dầu đến 11,65 USD/thùng vào ngày 23/12/1973, Arập Xêút - quốc gia thành viên quan trọng nhất của OPEC - không tán thành lệnh cấm vận. Một lần nữa, vũ khí dầu mỏ không đem lại hiệu quả như mong muốn.
Sự thiếu thống nhất trong OPEC vẫn tiếp tục xảy ra cho đến ngày nay. Kể từ khi thành lập vào năm 1960, OPEC từng có sự chia rẽ nội bộ giữa một bên là những quốc gia ôn hòa như Arập Xêút, nước có trữ lượng dầu mỏ khổng lồ và luôn có kế hoạch dài hạn, và một bên là những quốc gia cứng rắn ủng hộ biện pháp đối đầu bất chấp hậu quả. Nhưng thực tế cho thấy biện pháp cấm vận dầu mỏ chỉ gây hại cho các quốc gia thành viên OPEC.
Ahmed Zaki Yamani, cựu Bộ trưởng Dầu mỏ của Arập Xêút, thường cảnh báo những nước thành viên của liên minh không nên có những hành động quá mạnh tay. Tháng 11/1973, Yamani từng nhấn mạnh mục tiêu của OPEC không là "làm tê liệt và hủy hoại" nền kinh tế của các quốc gia phương Tây. Yamani cho biết rằng, mỗi cú sốc giá dầu chỉ gây nên hậu quả tai hại, bởi vì khi giá dầu tăng cao thì các quốc gia công nghiệp bắt đầu tìm kiếm các nguồn năng lượng khác thay thế. Ví dụ, các nhà chế tạo ôtô sẽ phát triển những chiếc ôtô tiết kiệm nhiên liệu hơn, và nhà thầu xây dựng sẽ tăng cường thêm chất cách nhiệt cho mỗi công trình của họ.
 |
| Hải quân Iran bắn tên lửa Mehrab trong cuộc tập trận "Velayat-90" ở eo biển Hormuz, ngày 1/1/2012. |
Lịch sử cho thấy, nhu cầu dầu mỏ từ các quốc gia thành viên của OPEC đã suy giảm mạnh vào đầu thập niên 80 và phương Tây đã triển khai nhiều dự án khoan thăm dò dầu mỏ ở Hắc Hải, Alaska và Vịnh Mexico. Ngày nay, các công ty dầu mỏ phương Tây đang nỗ lực tìm kiếm những trữ lượng bổ sung. Và, khoảng 40% trữ lượng dầu mỏ mới trên toàn thế giới được khám phá ở vùng biển sâu. Điều đó cho thấy vũ khí dầu mỏ thật ra chỉ trực tiếp chống lại những người sở hữu dầu mỏ!
Vũ khí dầu mỏ được các quốc gia tiêu thụ sử dụng cũng chẳng có hiệu quả gì. Phương Tây đã cố gắng sử dụng vũ khí dầu mỏ trong ít nhất 20 năm. Mặc dù hãy còn quá sớm để dự đoán hậu quả trong những vụ việc mới đây - cụ thể là Syria và Iran - nhưng những ví dụ từ Iraq, Nigeria, Sudan và Libya đã chứng minh cho thấy những biện pháp cấm vận dầu mỏ khó thực thi như thế nào cũng như dễ tìm cách tránh né chúng ra sao.
Trong trường hợp cựu Tổng thống Iraq Saddam Hussein và cựu lãnh đạo Libya Moammar Gaddafi, vũ khí dầu mỏ không giúp định đoạt số phận của họ. Ngoài ra, những quốc gia tiêu thụ dầu mỏ cũng không là một nhóm thuần nhất khi phải trừng phạt Iran. Đối với các quốc gia như Hàn Quốc và Nhật Bản có nhu cầu 10% dầu thô từ Iran. Hàn Quốc không dễ vi phạm những hiệp ước đã ký kết với Tehran. Nhật Bản càng cần lượng lớn dầu mỏ hơn nữa sau thảm họa hạt nhân Fukushima.
Thổ Nhĩ Kỳ, nước tiêu thụ 30% dầu thô từ Iran, không muốn gây khó khăn cho nước láng giềng này, và mới đây Bộ Năng lượng nước này thông báo sẽ đề nghị Washington miễn cho Ankara việc thực thi lệnh cấm vận chống Iran. Ấn Độ cũng muốn duy trì quan hệ gần gũi với Tehran. Cuối cùng là Trung Quốc - bất chấp việc mới đây đã giảm đáng kể sự phụ thuộc vào nguồn dầu mỏ Iran - cũng không muốn tham gia vào kế hoạch tẩy chay dầu mỏ Tehran và còn phê phán biện pháp trừng phạt của Washington là quá mức cần thiết.
Trong bất cứ trường hợp nào, vũ khí dầu mỏ cũng là công cụ không hiệu quả đối với cả nhà sản xuất lẫn người tiêu thụ. Bởi vì cả hai phía đều phụ thuộc lẫn nhau - nhà sản xuất cần tiền còn người tiêu thụ cần nhiên liệu. Chính sự phụ thuộc lẫn nhau này cuối cùng sẽ dẫn đến sự thỏa hiệp. Nhưng trước khi điều đó xảy ra, cả hai bên đối đầu đều sẽ phải chịu mất mát về phần mình
