Ông Hồng và chiếc viôlông mới.
(LĐ) -
Đến nay, ông Hồng không nhớ nổi đã chữa bao nhiêu chiếc xe đạp, xe máy nữa, nhiều lúc từ kiốt khốn khó ấy, khách qua đường còn nghe những giai điệu chất chứa tâm trạng cất lên từ đôi tay tài hoa của người nghệ sĩ mù.
Ký ức buồn đau
Trò chuyện với chúng tôi, ông Nguyễn Sỹ Hồng không giấu nổi bùi ngùi. Cách nay 55 năm, mùa lũ năm 1954 gây thảm họa vì đê 42 tại Nam Đàn, toàn xã Nam Tiến - quê ông chìm trong mênh mông biển nước. Bị đói rét hoành hành, cậu bé Hồng lúc ấy mới 9 tuổi phải cùng gia đình leo lên mái nhà tránh lũ. Thế rồi, cậu thấy đôi mắt đau rát, sưng vù, nước mắt chảy rất nhiều... Giữa biển nước mênh mông, gia đình không cách nào để kịp cứu chữa đôi mắt - cửa sổ cuộc đời của cậu.
Cơn lũ đi qua, do không được cứu chữa kịp thời nên mắt trái của cậu bị nổ, mắt phải chỉ nhìn thấy lờ mờ; chừng hai tuần sau, mắt phải của cậu cũng bị khép lại, cuộc đời cậu hoàn toàn chìm trong bóng tối. Buồn đau, vẫy vùng trong tuyệt vọng, nhiều lúc cậu thầm khóc khi cánh cửa cuộc đời mình dường như đã khép lại.
Năm 1963, gia đình Hồng theo đoàn người ngược dòng sông Lam rẽ vào sông Con, đến xã Bình Sơn, huyện Anh Sơn khai hoang, lập làng kinh tế mới. Dù buồn đau chưa nguôi ngoai, song Hồng nghĩ cuộc đời còn dài của mình không thể là gánh nặng cho gia đình.
Hành trình giành nguồn sáng
Hồng giúp bố mẹ đan lát đủ thứ thúng, mủng, giần, sàng, nong, nia, chõng tre... Ban đầu mò mẫm từng chiếc nan, lâu dần quen tay mọi việc trở nên dễ dàng hơn. Thấy anh đan đẹp, dân làng đến đặt mua, tiếng lành đồn xa, người tìm đến đặt hàng ngày càng đông. Bước đầu, anh Hồng có chút thu nhập phụ giúp bố mẹ.
Vào tuổi thanh niên, anh Hồng lại mày mò học nghề đóng cối xay. Lúc đầu mất gần một tuần mới hoàn thành được một chiếc, về sau chỉ mất khoảng hai ngày. Tiếng đồn về “phó cối Hồng” đóng cối chắc, đẹp, gạo ra đều, trục xoay nhẹ... cứ theo người đời loang nhanh, loang xa. Từ đó, công việc đóng cối xay trở thành nghề chính của anh. Cùng với đóng cối, anh Hồng còn bện chổi đót. Và chổi đót của anh cũng trở thành “thương hiệu” trên vùng đất Thành - Bình - Thọ của huyện Anh Sơn.
Năm 1977, anh cần mẫn đục đẽo hơn tháng trời để hoàn chỉnh một ngôi nhà gỗ hai gian trong sự khâm phục của mọi người. Và khi những cỗ máy xay xát hoạt động rậm rịch, những chiếc cối xay của “phó cối Hồng” cũng nhanh chóng vào “bảo tàng”. Cũng là lúc cái già hiện trên mái tóc ông Hồng. Không tồn tại nghề đóng cối xay, ông Hồng chuyển sang nghề sửa chữa xe đạp. Chẳng mấy chốc, ông lại xây dựng được “thương hiệu sửa chữa xe” cho mình.
Mới đây, ngành giáo dục huyện Anh Sơn phát động phong trào “Tiếng trống học bài”, vào lúc 4h và 19h hằng ngày, ông Hồng tình nguyện gióng trống nhắc nhở con em trong xóm học bài. Trong mắt mọi người, ông Hồng là tấm gương về nghị lực sống, vượt qua bất hạnh, khổ đau, xuyên bóng đêm giành nguồn sáng cho cuộc đời mình.
Tâm hồn nghệ sĩ
Đôi bàn tay thường ngày vốn điêu luyện đan lát, đóng cối xay, sửa chữa xe đạp, thì khi bị nỗi buồn xâm lấn, đôi bàn tay ấy trở nên tài hoa chơi sáo, kéo nhị, đánh đàn. Ông sử dụng thành thạo các nhạc cụ như măngđôlin, đàn bầu, nhị, sáo. Lâu nay, ông ao ước được sở hữu chiếc viôlông, biết mong ước không dễ thành hiện thực của ông, người cháu họ vừa mua tặng ông chiếc viôlông “trong mơ”. Ông mừng như trẻ được kẹo, từ nay bộ sưu tập nhạc cụ đã đủ đầy các loại do ông sở hữu và sử dụng.
Về đam mê đàn hát, suốt đời ông không quên kỷ niệm năm 1972, khi ông cùng cha và người anh ngược đò dọc từ Nam Đàn lên Anh Sơn, đến xã Thuận Sơn (Đô Lương) thì hết cái ăn. Để tiếp tục cuộc hành trình không còn cách nào ngoài việc phải neo thuyền vào làng xin ăn. Cha và anh của ông ái ngại rằng, người lành lặn, khỏe mạnh thế này vào xin ăn thì sẽ chẳng ai cho.
Ông Hồng cầm đàn bầu mang theo, một mình vừa đệm, vừa hát bài “Phụ tử tình thâm", và điệu “Đò đưa”. Dân làng nghe tiếng đàn, tiếng hát kéo ra xem rất đông; khi biết hoàn cảnh của ông, mọi người về nhà lấy gạo, dưa, nhút... chất đầy chiếc nón lá, rồi đưa ông ra sông xuống đò tiếp tục cuộc hành trình.
Ông Hồng “bật mí” thêm: Tiếng đàn, giọng hát của ông làm vài cô gái mê mẩn, tỏ ý muốn kết tóc xe tơ, gắn bó cuộc đời với ông. Nhưng rồi do thành kiến, những mối tình đều dang dở, chỉ còn cô Trần Thị Vân, tự nguyện đến với ông. Từ nhiều sự đồng cảm, năm 1979, hai người chung tay xây dựng mái ấm cho mình; năm sau, ông bà mừng đón “chàng quý tử” chào đời; hai năm sau, ngôi nhà nhỏ ấm cúng lại thêm tiếng khóc của một “công chúa”.
Vợ đi làm nương làm rẫy, chồng ở nhà đóng cối xay, hai nửa mảnh đời không may mắn lần hồi bao bọc, che chở cho nhau, dìu nhau đi qua tháng năm vất vả gian lao của cuộc đời. Giờ cuộc sống của gia đình ông bà đã thảnh thơi. Ông bà đã có 7 cháu nội, ngoại, tất cả đều học giỏi, chăm ngoan, gia đình hạnh phúc. Ông được Nhà nước trợ cấp 120.000 đồng/tháng.
Theo ông thì, một người gặp hoàn cảnh bất hạnh muốn vươn lên để chiến thắng số phận, ngoài ý chí nỗ lực của bản thân, rất cần đến sự sẻ chia đồng cảm, tin yêu của gia đình và cộng đồng. Được như vậy, họ mới đủ niềm tin và nghị lực để chiến thắng hoàn cảnh, tìm đến hạnh phúc, sống có ích và đem lại niềm tin yêu cho người thân và cả cộng đồng!
Ông Hồng tiễn chúng tôi bằng bản nhạc êm đềm lưu luyến. Chợt liên tưởng giai điệu này hiền hòa như dòng sông Con tại ngã ba Cây Chanh, trước khi hòa vào dòng Lam để về biển lớn.
Công Kiên