Xăng dầu không chỉ là đầu vào của hoạt động sản xuất - kinh doanh, mà còn là mặt hàng thiết yếu phục vụ đời sống xã hội. Theo Dự thảo Luật Thuế môi trường đang được Bộ Tài chính xây dựng (sẽ được trình Quốc hội cho ý kiến tại Kỳ họp thứ 7 tới đây), thì xăng dầu sẽ phải chịu thuế môi trường. Cụ thể, xăng các loại phải chịu thuế từ 1.000 đến 4.000 đồng/lít, nhiên liệu bay từ 1.000 đến 3.000 đồng/lít, dầu diesel từ 500 đến 2.000 đồng/lít, dầu hỏa và dầu mazut từ 300 đến 2.000 đồng/lít.
Về lý thuyết, nếu Luật Thuế môi trường được áp dụng ngay thời điểm này, thì giá bán lẻ xăng RON 95 ít nhất cũng tăng lên 18.490 đồng/lít và xăng RON 92 là 17.990 đồng/lít (sau khi tính thuế môi trường 1.000 đồng/lít), tức là gần bằng mức giá cao nhất từng được thiết lập hồi tháng 8/2008.
Tuy nhiên, ông Trường khẳng định, dù có áp thuế môi trường ngay bây giờ, giá bán lẻ xăng dầu vẫn không thay đổi, bởi xăng dầu đang chịu thuế môi trường dưới tên gọi là “phí xăng dầu”. “Mỗi lít xăng bán ra hiện phải chịu thêm 1.000 đồng phí xăng dầu. Mỗi năm, ngân sách thu về khoảng 9.000 tỷ đồng phí xăng dầu trong tổng số 10.224 tỷ đồng các khoản phí bảo vệ môi trường. Đây là loại thuế đánh vào người sử dụng xăng do loại nhiên liệu này khi sử dụng gây tác hại đến môi trường. Chính vì vậy, khi Luật Thuế môi trường có hiệu lực, thì loại phí này được gọi là thuế. Nếu thuế môi trường vẫn là 1.000 đồng/lít, thì giá bán lẻ xăng dầu không hề thay đổi. Và như vậy, Luật Thuế môi trường không hề làm tăng chi phí đầu vào của sản xuất, không hề làm giảm sức cạnh tranh của hàng hóa sản xuất trong nước và không tác động tiêu cực đến đời sống xã hội”, ông Trường giải thích.
So với Dự thảo Luật Thuế môi trường ban đầu thì mức thuế suất trần đối với mặt hàng xăng các loại và nhiên liệu bay giảm đáng kể, từ mức 6.000 đồng/lít xuống còn 4.000 đồng/lít và 3.000 đồng/lít. Trước khi đi đến quyết định này, Bộ Tài chính đã nhiều lần đi khảo sát thực tế tại các doanh nghiệp với nhiều loại hình kinh doanh khác nhau, đồng thời tham vấn ý kiến đại diện các hiệp hội, ngành hàng và thấy rằng, việc để mức thuế suất tối đa tương đương 25% giá bán lẻ xăng là hợp lý.
“Hiệu quả sử dụng năng lượng của Việt Nam thấp hơn nhiều so với bình quân của thế giới là do Việt Nam chưa có các sắc thuế hạn chế sử dụng năng lượng lãng phí và khuyến khích doanh nghiệp sử dụng năng lượng tiết kiệm, đặc biệt là năng lượng sạch, năng lượng tái tạo”, ông Andrew Stephens, chuyên gia kinh tế của Cơ quan Phát triển quốc tế Hoa Kỳ (USAID) nhận định và cho rằng, trong thời điểm này, Việt Nam xây dựng sắc thuế đánh vào đối tượng sản xuất, nhập khẩu những loại hàng hóa gây tổn hại đến môi trường sống của cộng đồng là phù hợp.
Vẫn theo ông Andrew Stephens, về lý thuyết, cần phải đánh thuế môi trường đối với mặt hàng dầu diesel, dầu hỏa và dầu mazut cao hơn mặt hàng xăng, vì mức độ ô nhiễm nhiều hơn so với xăng các loại. Tuy nhiên, việc lựa chọn ngược lại của Bộ Tài chính là phù hợp với tình hình thực tế, bởi đối tượng sử dụng dầu hỏa và mazut chủ yếu là người dân ở vùng khó khăn, hay doanh nghiệp khai thác thủy - hải sản, còn diesel là nhiên liệu đầu vào chủ yếu của hoạt động sản xuất - kinh doanh. “Nếu Bộ Tài chính áp mức thuế môi trường quá cao đối với 3 loại nhiên liệu này sẽ ảnh hưởng xấu tới đối tượng cần được giúp đỡ và tác động mạnh đến tình hình sản xuất - kinh doanh của doanh nghiệp cũng như cả nền kinh tế”, ông Andrew Stephens nhấn mạnh.
Trong khi đó, vẫn theo ông Trường, việc đưa nhóm thuốc bảo vệ thực vật hạn chế sử dụng vào đối tượng chịu thuế môi trường (khung thuế suất từ 500 đồng hoặc 1.000 đồng/kg đến 5.000 đồng/kg) sẽ không tác động đến thu nhập của 70% dân số đang làm nông nghiệp. “Theo tính toán của Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, thuốc bảo vệ thực vật chiếm 12% tổng chi phí sản xuất nông nghiệp, trong đó, loại thuốc bảo vệ thực vật thuộc dạng hạn chế sử dụng phải chịu thuế môi trường chỉ chiếm 1,8% tổng chi phí, nên việc đánh thuế môi trường với sản phẩm này không làm tăng chi phí đầu vào đối với sản xuất nông nghiệp”, ông Trường nói.