Chuyến xe định mệnh
Ở đời nhiều khi có những sự kiện ban đầu tưởng rất vu vơ nhưng đôi khi đó là sự khởi đầu rất logic cho một chuỗi những điều kỳ diệu sau này. Trường hợp của tướng cướp Dũng K cơ và kiều nữ Kim Oanh cũng không là ngoại lệ. Vào một sớm cuối năm, chiếc xe hòm vội vã chở những phạm nhân thành án cuối cùng từ Trại giam Công an Phú Thọ lên Trại Phú Sơn 4. Phú Sơn 4 là trại loại I chuyên giam giữ những phạm nhân có án nặng, tới mức chung thân. Trên chiếc xe hòm hôm ấy có hai phạm nhân nữ và 6 phạm nhân nam. Tất cả đều bị còng tay và còng chân, chỉ có duy nhất có 1 nữ can phạm không bị khóa số 8. Đó là Nguyễn Thị Kim Oanh – một giáo viên văn trường chuyên Bắc Giang. Cô giáo xinh đẹp này bị kết tội “lạm dụng”, lấy tiền của trường cho vay lãi đi buôn hàng Trung Quốc rồi thất thoát 600 triệu. Oanh đã đền gần 400 triệu, còn thiếu 200 triệu. Không có khả năng chi trả, cô đánh bài chuồn nhưng sau đấy không thoát phải ra tự thú.
Chắc là do thái độ cải tạo tốt nên cán bộ dẫn giải tin tưởng không xích tay chứ mức án của Oanh cũng đã tới 8 năm tù chứ đâu có ít. Xe tới Việt Trì thì nghỉ ăn trưa. Thấy những đồng phạm nam tội nghiệp quá, không có đồng lưu ký nào để mua đồ ăn, cô xin phép cán bộ lấy tiền riêng của mình ra mua cho mỗi người một bát phở, mười gói mì tôm và hai cân đường. Tới Phú Sơn 4, Oanh được điều vào K2. Trong những ngày buồn ấy, một nữ đồng phạm thấy Oanh dễ gần nên hay đến an ủi Oanh và hứa hẹn sẽ giới thiệu cho cô một đại ca. Vào lúc ấy, Kim Oanh cũng chả hiểu đại ca là thế nào. Cô càng không hề mơ mộng về chuyện tình ái với đại ca hão huyền ấy.
Dũng đại ca là ai?
Mỗi phạm nhân lên tại cải tạo thường có một danh chỉ bản và một tập hồ sơ lèo tèo. Ngành quản lý trại giam thực sự đổi mới từ khi Đại tá Nguyễn Duy Xi – Nguyên Cục phó và Thiếu tướng Lê Hữu Qua, nguyên Cục trưởng mở các lớp học để phạm nhân “tự thuật cuộc đời”. Thường là sau khi đã ăn năn hối cải, các phạm nhân đều kể lại một cách chi tiết con đường đã dẫn họ đến tội lỗi. Theo các nhà báo Ngọc Tước và nhà văn Chu Lai thì cuộc đời Dũng K cơ kể mấy đêm không hết. Nhưng cũng có thể tóm tắt 20 năm giang hồ của Lê Văn Dũng như sau:
Lên 7 tuổi, mới học lớp 2, Dũng đã trở thành học sinh cá biệt tại Trường tiểu học xóm bến Phổ Yên. Bỏ học, trốn đi bộ đội, trở thành đảng viên trẻ nhất của trung đoàn 338, nhưng được 2 năm đã bị kỷ luật khai trừ vì mang 200kg thuốc nổ của đơn vị đi đánh cá đem đổi gà vịt cho anh em cải thiện. 1 năm sau ra quân, lên Bắc Kạn buôn vàng cám, bạc trắng hoa xòe rồi làm giấy tờ giả của Viện quân y 91. Công an Hai Bà Trưng bắt giam và giao Tòa án Quân sự QK1 xử 18 tháng tù. Mãn hạn, vào vùng Na Rì ngay và lập tức trở thành một bưởng trưởng hùng mạnh, phá tan đế chế cũ của Giang còi, cát cứ một đại bản doanh với tấm biển lớn “không nhiệm vụ miễn vào”. Tại đây có hẳn một trạm xá, đủ y bác sỹ để lo cho anh em lúc ốm đau. Vì thế ai cũng hết lòng vì công việc. Có ngày Dũng thu được tới hơn 30 cây vàng. Nhưng cái gì cũng có thời. Đầu những năm 90, quân đãi vàng chết vì sốt rét, thuốc phiện, sập hầm nhiều vô kể. Vương quốc Na Rì tàn tạ dần. Trong một chuyến đi tìm vùng đất mới Thần Sa (Võ Nhai), Dũng đã gây ra vụ cướp táo bạo tại Thác Riềng. Rút súng bắn thẳng vào một chiếc xe khách để thị uy, Dũng khiến 50 hành khách mặt cắt không còn hột máu và cướp đi toàn bộ tài sản của họ đem bán được 64 triệu. Bị bắt giam tại trại giam nhưng đúng đêm 23 Tết, Dũng trốn trại ra Quảng Ninh buôn động vật hoang dã từ Đắk Lắk sang Trung Quốc, sau đó chạy lên vùng đá đỏ Lục Yên tiếp tục tìm kiếm cơ hội mới ở vùng đất hứa. Sau vài tháng khổ nhục kế giấu bặt tung tích để làm nấu cơm cho các ông chủ đá đỏ, Dũng lại rất nhanh chóng nổi danh. Bắt đầu từ vụ ăn may đi đãi thử đá để học nghề, mới ở rổ đất thứ 4 Dũng đã vớ được 1 viên rubi đem bán đươc 8 triệu (cách đây 20 năm). Có tiền trong tay, lại sẵn có năng khiếu săn mồi siêu hạng, Dũng phát hiện ra một nghề mới rất cần ở vùng đá đỏ - đó là nghề xe ôm tại nơi hiểm trở này. Đúng như dự đoán, đoàn xe ôm khét tiếng của Dũng thao túng toàn bộ hàng hóa “xuất nhập cảnh” tại vùng đá quý Lục Yên chẳng khác gì Khánh Trắng một thời ở chợ Đồng Xuân. Ngoài xe ôm, Dũng còn khai sinh ra trò đánh bạc, đề đóm, mỗi ngày lãi 40, 50 triệu tiền thu về không đếm kịp. Có một điều kỳ lạ, ngay giữa lúc sống trong đỉnh cao của uy quyền và tiền bạc như vậy thì Dũng K cơ lại có ma ám, đâm ra chán mọi thứ và muốn đầu thú trở thành người tự do. Và rồi chuyện đó đã xảy ra. Ngày 22/4/1994, tướng cướp khét tiếng một thời Lê Văn Dũng đã ra đầu thú tại Công an tỉnh Bắc Thái với 3 tội danh và sau đó là mức án 11 năm tù. Sau mấy tháng ở trại tạm giam, cuộc đời Dũng đã sang trang mới tại Trại Phú Sơn 4. Thật may mắn cho Dũng, đây là một trại điển hình, 2 lần được phong Anh hùng với những câu chuyện giáo dục cải tạo đầy thuyết phục. Sự tôn trọng, mong muốn khơi dậy nhân cách phạm nhân của các cán bộ quản giáo nơi đây đã hoàn toàn cảm hóa được những con người một thời lầm lỗi. Dũng trở thành một phạm nhân thành thật ăn năn hối cải, một Trưởng Ban tự quản đáng tin cậy ở phân trại K4.
Yêu thầm bên suối Giang Tiên
Toàn bộ cuộc đời Dũng, cho đến lúc ấy Kim Oanh không hề biết (nếu biết dù ít chắc cô giáo con nhà lành xinh đẹp ấy phải sợ chết khiếp). Do không biết nên nghe theo lời cô em kết nghĩa, Oanh mạnh dạn viết thư tâm sự với người đàn ông chưa biết mặt. Dũng K cơ đã trải qua biết bao người đàn bà nhưng đọc những lá thư của người con gái xa lạ, tâm hồn anh như cánh đồng khô cháy bỗng gặp những giọt mưa mùa xuân mát lành. Dũng như lần đầu biết yêu. Trái tim tưởng đã hóa đá nay đập rộn ràng mỗi khi chờ thư của cô giáo từ K2 vụng trộm gửi sang. Ngọn lửa tình yêu theo quy luật càng dồn nén càng cháy bỏng. Với ai chứ với Dũng không khó để thỏa nỗi ước mong. Anh ta nghĩ ra một kế: Đề xuất với Ban giám thị tổ chức ngày trao đổi giống cây giữa các phân trại. Và rồi Dũng đã thỏa nỗi ước mong. Sau này Kim Oanh kể lại: “Em thấy một người to béo, nước da đen nhẻm, răng trắng nhởn cứ nhìn em cười. Lúc ấy thú thật em chẳng có cảm tình gì hết. Nhưng rồi sau này không hiểu sao em thấy nhớ anh ấy”.
Những lá thư giúp họ gần nhau hơn, cảm thông với nhau hơn để cùng cải tạo tốt, hướng tới một ngày được tự do...
Câu chuyện “Thế rồi sau này” kéo dài nhiều năm. Trong trại, tất nhiên là không thể công khai yêu đương. Cả hai đã âm thầm không vượt quá giới hạn, mặc dù họ đều là phạm nhân tự giác, có thừa điều kiện để gần nhau, trao cho nhau một nụ hôn. Nghĩ đến một sự gắn bó trọn đời sau khi ra trại, cả Oanh và Dũng đều quyết tâm chờ đợi. Cuộc sống đã chứng kiến biết bao mối tình kỳ diệu nhưng một mối tình thanh bạch trong hoàn cảnh như Oanh và Dũng thật sự hiếm hoi.
Rồi cái ngày đẹp nhất đã đến. Năm 2000, sau nhiều lần giảm án, Oanh và Dũng đã cùng được ân xá nhân dịp 30/4. Kim Oanh vẫn mặc áo kẻ sọc, cô không thay áo như những phạm nhân khác. Oanh vừa khóc vừa chào bạn bè, đặc biệt cảm ơn các cán bộ quản giáo đã giúp cô trong suốt 5 năm qua. Hẳn nhiều người không biết rằng, vào lúc ấy có một đồng phạm luôn hướng về phía cô. Hai người chia tay nhau trong xúc động tạm xa mảnh đất trung du đã giúp họ thành người lương thiện.
... Và một đám cưới đẹp như mơ sau ngày ra trại là kết quả của mối tình bí mật đó
Ít lâu sau ngày ra trại, họ đã tổ chức một đám cưới thật hoành tráng, Dũng thuê một đoàn xe ca kết toàn hoa trắng từ thị xã Sông Công lên Phú Thọ rước dâu. Họ bắt đầu làm lại cuộc đời từ hai bàn tay trắng nhưng thừa đủ tài năng và nghị lực cộng với một tình yêu đã được thử lửa qua nhiều năm. Trong giới giang hồ đá đỏ không thiếu người một phút nên vua. “Có người như đại ca ASG” kiếm được viên đá bán được cả triệu đô, ASG chỉ biết có tiền và tiền, quên hết bạn bè thuở hàn vi, coi thường cả những người đã từng giúp đỡ ông ta. Riêng Lê Văn Dũng thì khác. Trong cái giang hồ của Dũng luôn có một cái tình con người làm cốt lõi nên sau khi ra trại, Dũng và Oanh được bạn bè sẵn sàng cưu mang. Họ đã nhanh chóng trở thành một doanh nhân thành đạt. Công ty Dũng Oanh tiếng tăm không chỉ ở Thái Nguyên mà từ Hà Nội đến TP Hồ Chí Minh, giới kinh doanh đá quý đều nể trọng và quý mến. Năm 2009, doanh số của công ty lên tới hơn 10 tỷ, sau khi đóng thuế, công ty còn được thưởng 200 triệu. Dũng Oanh còn kinh doanh 1.200m2 cây cảnh, giá trị hiện tại lên tới 14 tỷ. Giàu có nhưng Dũng Oanh không bao giờ ngoảnh mặt với quá khứ. Công ty trợ giúp hàng trăm triệu cho nhà trẻ Trại Phú Sơn 4, dịp lễ, Tết nào cũng may quần áo mang tận nơi tặng các cháu. Quỹ trẻ em nghèo của tỉnh, huyện cũng thường xuyên được vợ chồng Dũng Oanh tài trợ. Tính đến nay, công ty đã có 8 cúp vàng các loại, gần đây nhất là Danh hiệu DN Tâm tài 2009. Sởi lởi thì trời cho, Công ty Bia Địa Việt đã đặt 2 bức tranh đá quý trị giá gần 1 tỷ.
Câu chuyện của Dũng K cơ và cô giáo Kim Oanh mãi mãi là bài học cho những người chẳng may vấp ngã trong đường đời. Một khi còn tin yêu vào cuộc sống này, mọi điều tốt đẹp sẽ sẵn sàng đón đợi ta ở phía trước.