Sự nghiệp đồ sộ
Theo tư liệu trên website Lenta.ru, nhà bác học Claude Levi-Strauss sinh ra tại Brussels, nơi cha ông, một họa sĩ, tới làm việc theo hợp đồng. Chẳng bao lâu sau đó, gia đình ông quay trở về Paris, nơi nhà khoa học lớn sẽ sống phần lớn cuộc đời mình và cũng là nơi ông vừa trút hơi thở cuối cùng.
Ông ngoại của Claude Levi-Strauss là giáo chủ đạo Do Thái ở Versailles và đó chính là nơi mà nhà khoa học tương lai từng sống trong thời gian bùng nổ chiến tranh thế giới lần thứ nhất và người cha phải đi quân dịch. Trong nhà ông ngoại đã tuân thủ các nghi thức Do Thái giáo một cách nghiêm ngặt nhưng bà ngoại lại giáo dục cậu cháu của mình theo lối tư duy tự do.
Sau khi tốt nghiệp xuất sắc trung học, Claude Levi-Strauss nghiên cứu về luật học và triết học tại Sorbonne. Cũng chính trong giai đoạn này, nhà khoa học tương lai đã tỏ ra say mê chính trị và gia nhập chi nhánh Pháp của Quốc tế công nhân, đồng thời làm luận văn về các tiền đề triết học của luận điểm chủ nghĩa duy vật lịch sử. Chỉ vì một tai nạn xe hơi tình cờ xảy ra mà Claude Levi-Strauss đã không trực tiếp dấn thân vào các hoạt động chính trị thực tế. ..
Ngay từ còn ở đại học, Claude Levi-Strauss đã quan tâm tới môn nhân chủng học - tại Sorbonne, anh sinh viên thông minh trác tuyệt này đã thường xuyên tới nghe các bài giảng của nhà nhân chủng học có tiếng thời đó.
Năm 1935, Claude Levi-Strauss đã nhận lời làm giáo sư xã hội học ở trường đại học Sao Paolo, Brazil. Hết năm học đầu tiên, vị giáo sư trẻ đã cùng vợ, thay vì quay về nghỉ hè ở Pháp, đi tới cùng các bộ lạc da đỏ ở Brazil. Những tư liệu dân tộc học thu thập được trong chuyến công tác ngoài dự kiến này đã trở thành nền tảng của cuộc triển lãm bất ngờ thu hút được sự chú ý cao độ của giới chuyên môn. Claude Levi-Strauss nhận được tiền tài trợ nghiên cứu và từ đó, nhân chủng học đã trở thành sự nghiệp chính yếu của đời ông.
Những trang ghi chép trong các chuyến công tác thực tế đã giúp Claude Levi-Strauss viết nên tác phẩm lừng danh "Nhiệt đới buồn" (vừa được dịch ra cả tiếng Việt), cuốn sách rốt cuộc đã giúp ông có được danh tiếng toàn cầu mặc dù lúc đầu giới chuyên môn đã đón nhận khá dè dặt.
"Tôi đã luôn ở trong trạng thái hứng khởi trí tuệ liên tục, - về sau, nhà khoa học đã nhớ lại cảm giác của mình trong các chuyến thám hiểm. - Tôi như thể được sống lại kinh nghiệm của các nhà du lịch ở thế kỷ XVI. Tôi đã mở ra cho mình một thế giới mới".
Cuối những năm 30 của thế kỷ trước, Claude Levi-Strauss rời Brazil về Pháp. Sau khi quân phát xít Đức tràn vào chiếm đóng Pháp và đưa ra những đạo luật phân biệt sắc tộc nghiệt ngã, ở lại đây đối với Claude Levi-Strauss là một việc ẩn chứa nhiều nguy hiểm. Vì thế nên ông đã chấp nhận lời mời sang Mỹ làm việc theo chương trình Rockefeller nhằm giải cứu các nhà khoa học châu Âu khỏi họa diệt chủng.
Thời gian ở Mỹ đã trở thành giai đoạn sáng tạo thứ hai đầy hiệu quả của Claude Levi-Strauss: tại New York, ông đã làm quen với nhà nhân chủng học lỗi lạc Frenz Boas và nhà ngữ văn xuất thân từ nước Nga Roman Yakobson. Cũng trong thời gian đó, ông đã đi sâu vào nghiên cứu tư liệu ở Thư viện Quốc gia Hoa Kỳ và ở lại Mỹ cả khi chiến tranh thế giới thứ hai đã kết thúc, cho tới năm 1947.
Tại Mỹ, Claude Levi-Strauss đã hoàn thành công trình "Những cấu trúc cơ bản của dòng tộc" mà về sau ông đã bảo vệ như một luận án tiến sĩ. Trong những năm 50 của thế kỷ trước, ông đã xuất bản công trình "Sắc tộc và lịch sử" và nhiều bài báo về sau được tập hợp trong cuốn "Cấu trúc luận Nhân chủng học" (Anthropologie structurale).
Trong những năm 60-70 của thế kỷ trước, Claude Levi-Strauss đã cho xuất bản bộ sách 4 tập "Mythologiques, một công trình mang tính tổng kết sự nghiệp nghiên cứu của ông. Ông cũng trở thành trưởng khoa xã hội học ở Collège de France và lập ra ở đó Phòng thí nghiệm nhân chủng học xã hội. Đồng thời, ông cũng cùng nhà nghiên cứu ngôn ngữ Émile Benveniste và nhà địa lý Piere Gourou lập ra tạp chí hàn lâm nhân chủng học Con người (l'Homme) bằng tiếng Pháp tương tự như các tạp chí tiếng Anh "Man" và "American Antropologist"...
Năm 1973, Claude Levi-Strauss được kết nạp vào Viện Hàn lâm Khoa học Pháp. Ông đã là viện sĩ Pháp đầu tiên sống tới hơn 100 tuổi…