“Suy thoái kinh tế hai năm qua chúng ta mới thấy rõ vai trò chủ đạo của doanh nghiệp nhà nước. Đến nay, điện sinh hoạt 100 số đầu vẫn bán dưới giá thành. Tập đoàn Điện lực phải kéo điện ra các đảo Phú Quốc, Phú Quý, Lý Sơn... mỗi năm lỗ hàng trăm tỷ đồng. Ngành than vẫn phải bán than dưới giá thành cho ngành điện, xi măng, giấy, phân bón; Tổng Công ty Lương thực phải mua dự trữ hai triệu tấn gạo; Tổng Công ty Xăng dầu luôn phải bán dưới giá thành thì làm sao có hiệu quả được...” - Bộ trưởng Bộ Tài chính Vũ Văn Ninh nói như thế trước Quốc hội ngày 9-11.
Tuy nhiên, nhiều đại biểu chỉ ra các điểm đáng báo động của những “ông lớn” này.
“Lãi thực chỉ 1%/năm thôi”
Ông Nguyễn Đình Xuân (Tây Ninh) phân tích: Khi bảo lợi nhuận xấp xỉ 15% chúng ta đã cho là cao, tôi cho là không cao. Chỉ cần đem tiền đến gửi ngân hàng cũng đã có số lãi đó... Phân tích sâu hơn, chỉ có 35/91 đơn vị là có tỷ suất lợi nhuận trên 15% nhưng phải lưu ý là vốn của họ chỉ một, vốn vay gấp 10 lần. Như vậy tính trên tổng số vốn họ đang sử dụng thì không phải chỉ có một vốn đầu tư và nhân 10 lần số đó. Như vậy hiệu quả đầu tư trên tổng số tiền họ đang sử dụng chỉ xấp xỉ 1%. Con số này không thể nói là hiệu quả.
Ông Mai Xuân Hùng (Hậu Giang) phân tích thêm: “Chúng ta chưa đánh giá hết được khối lượng tài sản mà hệ thống các doanh nghiệp này đang nắm giữ. Nếu tổng tài sản đó được vốn hóa thì phải trên bốn triệu tỷ đồng (tương đương 210 tỷ USD) chứ không chỉ là 1,2 triệu tỷ đồng như báo cáo. Như vậy thì lợi nhuận thực chất chỉ đạt được 0,5% đến 1% thôi”.
Bà Phạm Thị Loan (Hà Nội) còn đưa ra con số bi quan hơn: Năm 2007 nếu trừ đi yếu tố trượt giá và trừ đi lạm phát thì hiệu quả đạt khoảng 3% lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu, năm 2008 đạt âm 11%.
“Tiền lỗ chạy vào các công ty sân trước, sân sau”
Toàn là nợ và lỗ!
Theo báo cáo giám sát của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, có 47 tập đoàn, tổng công ty đang tham gia đầu tư vào các lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm và góp vốn quỹ đầu tư.
Tính đến hết tháng 12-2008, tổng mức đầu tư của Tập đoàn Điện lực (EVN) vào chứng khoán là 214 tỷ đồng; các tập đoàn góp vốn vào quỹ đầu tư của Tập đoàn Dầu khí Việt Nam là 368,9 tỷ đồng; Tập đoàn Cao su VN 271 tỷ đồng; Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy 144 tỷ đồng... nhưng đều không phát sinh lợi nhuận.
Đến tháng 12-2008, có bảy tập đoàn nằm trong diện có nợ quá hạn cao với 4.168 tỷ đồng, trong đó nợ có khả năng mất vốn chiếm 15% tổng số nợ quá hạn.
Tập đoàn Vinashin có số nợ quá hạn là 3.812 tỷ đồng, chiếm 19,17% dư nợ của tập đoàn và chiếm 91,4% tổng số nợ quá hạn của cả bảy tập đoàn.
Giữa năm 2008, Kiểm toán nhà nước công bố: Năm 2007, tỷ lệ nợ phải trả/vốn chủ sở hữu của EVN là 1,44 lần; Tập đoàn Công nghiệp than khoáng sản Việt Nam (TKV) là 1,88 lần; Tổng Công ty Thương mại Sài Gòn 0,84 lần; Cienco 5 tới 88,75 lần, Cienco 8 là 29,87 lần và Tổng Công ty Lắp máy Việt Nam (Lilama) là 17,27 lần... Tính đến hết năm 2007, Lilama lỗ lũy kế hơn 23 tỷ đồng, Tổng Công ty Xây dựng Sài Gòn lỗ hơn 90 tỷ đồng, Tổng Công ty Xây dựng công trình giao thông 8 (Cienco 8) hơn 93 tỷ đồng...
TS tổng hợp
Theo ông Xuân, sự hình thành và phát triển quá nhanh, quá nóng của các tập đoàn và tổng công ty nhà nước đã vượt quá tầm quản lý của nhà nước, vượt quá những cơ sở pháp luật và cũng vượt quá khả năng điều hành của chính các doanh nghiệp. “Nhiều đơn vị đã chết hoặc xem như đã chết nhưng chưa làm thủ tục phá sản, giải thể theo đúng luật phá sản. Để càng lâu thì tài sản nhà nước càng thất thoát, thua lỗ càng nhiều, quyền lợi của người lao động... bị ảnh hưởng và trách nhiệm của những người làm ra thua lỗ sẽ mờ nhạt, hạ cánh an toàn. Tiền thua lỗ, thất thoát sẽ chạy vào các nhà đầu tư nước ngoài, công ty đối tác, công ty sân trước, sân sau, sân trên, sân dưới, các công ty con, cháu...” - ông Xuân nói.
Nguyên Thống đốc NHNN Cao Sĩ Kiêm (Thái Bình) cũng cho rằng các tập đoàn thành lập quá nhanh, đôi khi không đúng yêu cầu thực tiễn nên tổ chức, nhiệm vụ, nhân sự chưa có kinh nghiệm, phân nhiệm chưa rõ.
TS Trần Du Lịch (TP.HCM) bổ sung: “Quản lý tập đoàn cực kỳ khó, anh làm bộ trưởng giỏi nhưng không thể làm chủ tịch một tập đoàn được. Do đó, bao nhiêu tập đoàn là tùy thuộc năng lực chuẩn bị nhân sự của chúng ta. Họ phải thực sự có năng lực. Đây là nguồn cực khó, phải đào tạo, phải chuẩn bị chứ chúng ta tổ chức theo kiểu hiện nay sẽ cứ phải đảo tới đảo lui”.
Có nên đa ngành?
Về chuyện đa ngành của các tập đoàn, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Võ Hồng Phúc nói: “Tập đoàn phải đa ngành, đa nghề, đa lĩnh vực để phát triển. Đây là xu hướng thế giới. Hơn nữa, tập đoàn kinh doanh đa lĩnh vực mới thúc đẩy, tạo tính cạnh tranh cao cho nền kinh tế và đảm bảo hiệu quả. Ví dụ, trong lĩnh vực viễn thông, nếu không cho các tập đoàn, tổng công ty khác đầu tư thì VNPT sẽ độc quyền, người tiêu dùng không được hưởng lợi”.
Ông Trần Du Lịch thì cho rằng một số tập đoàn hơi lệch hướng bằng cách mở rộng đa ngành. Ông nói: “Phải nhớ rằng các tập đoàn trên thế giới họ muốn đa ngành phải tốn hàng trăm năm để phát triển chứ không phải hôm nay ra quyết định thành lập, ngày mai đã đa ngành. Chúng ta để một số đơn vị đầu tư theo thời thượng, chạy theo mục tiêu tài chính như làm về tài chính ngân hàng, đầu tư sai ngành, tạo bức xúc xã hội, đó là điều đáng tiếc”.
Đại biểu Phạm Thị Loan tiếp tục lên tiếng: “Tôi đồng tình với đại biểu Lịch. Ở các nước, phải qua hàng trăm năm tích lũy vốn, công nghệ, kinh nghiệm quản lý mới lên tập đoàn. Mình thì thiếu kinh nghiệm, vốn yếu. Boeing, Siemens, Microsoft... lớn mạnh đâu phải vì họ kinh doanh đa lĩnh vực”.
Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế Hà Văn Hiền:
Đầu tư sai là do nhà nước
. Có những đơn vị thua lỗ kéo dài nhiều năm nhưng lại không bị xử lý. Vì sao vậy, thưa ông?
+ Dù có rất nhiều lợi thế nhưng các tập đoàn vẫn làm ăn kém hiệu quả so với các khu vực khác. Thậm chí có những đơn vị chúng ta đã phát hiện thua lỗ từ khá lâu nhưng các cơ quan chức năng không xử lý triệt để, dẫn đến thua lỗ cứ kéo dài. Có những đơn vị tỷ lệ số nợ vay tăng đến 10-15 lần. Tuy nhiên, qua giám sát cho thấy phần lớn những doanh nghiệp này vay vốn để đầu tư trung hạn và dài hạn. Với những dự án có hiệu quả thì nhà nước nên can thiệp, tạo điều kiện về vốn để dự án không bị đình trệ. Đồng thời, cũng cần phải xem xét trách nhiệm cá nhân, nếu thua lỗ vì lợi ích cục bộ, lợi ích cá nhân phải xử lý.
. Thế còn việc đầu tư ra ngoài ngành của các tổng công ty dẫn đến thua lỗ, kém hiệu quả sao vẫn cứ gia tăng?
+ Cái này sai do cơ quan quản lý nhà nước. Trước đây chưa có văn bản quy định về điều kiện để các doanh nghiệp nhà nước được đầu tư ra ngoài ngành. Do đó, dẫn đến tình trạng là có đến 47% doanh nghiệp đầu tư vào các lĩnh vực như chứng khoán, tài chính, bất động sản với khối lượng tiền khá lớn nhưng hiệu quả lại thấp. Khi phát hiện ra, chúng ta đã không kịp ban hành các quy định để xử lý. Nhà nước cần phải có quy định cụ thể như đơn vị nào được phép đầu tư ngoài ngành, đầu tư trong trường hợp nào, điều kiện nào và trách nhiệm của tổng công ty ra sao. Phải có quy định mới xử lý được.
THÀNH VĂN ghi