Thu hút đầu tư sản xuất máy móc chế biến nông sản chưa thực sự hấp dẫn
CôngThương - Phạm vi của Quy hoạch là chế tạo thiết bị, máy móc phục vụ một số quá trình từ bảo quản nguyên liệu đến tinh chế một số sản phẩm nông- lâm- thủy sản chủ lực, bao gồm: gạo, cà phê, cao su, chè, mía đường, điều, gỗ ván nhân tạo, thủy hải sản và thức ăn chăn nuôi. Trong quá trình soạn thảo, Quy hoạch đã nhận được nhiều ý kiến đóng góp của các bộ, ngành, các chuyên gia kinh tế, các nhà hoạch định chính sách, các doanh nghiệp.
Báo Công Thương xin được trích dẫn một số ý kiến nhận xét về quy hoạch trong khuôn khổ buổi làm việc do Thứ trưởng Bộ Công Thương Đỗ Hữu Hào cùng đại diện của Viện Nghiên cứu chiến lược, chính sách công nghiệp, Viện Công nghiệp nặng, ... được diễn ra vào sáng ngày 7/7/2009.
Thực trạng công nghiệp chế tạo thiết bị chế biến nông- lâm thủy sản Việt Nam
Ông Nguyễn Anh Nam- Trưởng phòng Nghiên cứu Phát triển công nghiệp của Viện Nghiên cứu chiến lược, chính sách công nghiệp- cho biết, hiện nay cả nước có hơn 80 cơ sở chế tạo, lắp ráp thiết bị chế biến nông- lâm- thủy sản thuộc phạm vi quy hoạch, trong đó chỉ khoảng 24 cơ sở có tính chyên ngành (phần lớn thuộc lĩnh vực lúa gạo). Ngoài ra, còn có gần 300 cơ sở quy mô nhỏ vừa làm máy nông nghiệp vừa gia công phụ kiện thiết bị chế biến. Hiện chưa có doanh nghiệp cơ khí FDI nào hoạt động chuyên trong lĩnh vực này. Số lượng cơ sở những năm gần đây không thay đổi nhiều do đơn hàng thường nhỏ lẻ, vốn đầu tư chưa lớn nhưng doanh thu và lợi nhuận thấp, sự không ổn định của nguyên liệu chế biến đầu vào... nên không hấp dẫn nhà đầu tư. Phân bố cơ sở chế tạo chủ yếu tại các trung tâm cơ khí phía Bắc (Hà Nội, Thái Nguyên) và phía Nam ( TP.Hồ Chí Minh, Đồng Nai và Long An).
Kim ngạch nhập khẩu thiết bị, phụ tùng chế biến nông- lâm- thủy sản trong các năm từ 2001 đến 2006 tăng tốc độ bình quân 8,6%/năm nhưng tỷ trọng nhập khẩu của lĩnh vực này trong tổng kim ngạch nhập khẩu thiết bị, phụ tùng lại giảm mạnh từ 7,5% năm 2001 xuống còn 4% năm 2006. Điều đó chứng tỏ năng lực tự sản xuất của cơ khí trong nước. Trong số gần 36 triệu USD nhập khẩu năm 2006, giá trị thiết bị dây chuyền chế biến thức ăn chăn nuôi là 10,1 triệu USD, chế biến ván gỗ nhân tạo là 5,2 triệu USD và giá trị thiết chế biến thủy sản là 15,3 triệu USD.
Theo các chuyên gia ước tính, thị phần giá trị thiết bị nhập khẩu đã liên tục giảm từ 32-35% năm 2001 xuống chỉ còn 18-20% vào năm 2007, trong khi đó, năm 2007 kim ngạch xuất khẩu đạt gần 8,8 triệu USD, tốc độ tăng trưởng bình quân thời kỳ 2001-2007 đạt xấp xỉ 24%/năm. Đặc biệt, là thiết bị chế biến gạo, giá trị xuất khẩu của riêng lĩnh vực này chiếm trên 95% kim ngạch xuất khẩu thiết bị chế biến nông- lâm –thủy sản. Thị trường xuất khẩu từ các nước ASEAN đã mở rộng sang cả châu Á, châu Phi và châu Mỹ. Không những không có đối thủ trên “sân nhà” mà thiết bị chế biến gạo thương hiệu Việt Nam còn dễ dàng thắng đối thủ ngay trên đất lúa của bạn từ Thái Lan đến Italia và cả Mỹ.
Về công nghiệp hỗ trợ, hiện có khoảng 700 cơ sở cơ khí nông nghiệp tham gia cung cấp sản phẩm hỗ trợ cho chế tạo thiết bị chế biến nông- lâm- thủy sản nhưng hầu hết là linh phụ kiện đơn giản.
Nhìn chung, công nghiệp hỗ trợ còn yếu, hầu như các nguyên vật liệu cho chế tạo đều phải nhập khẩu; cơ khí nền tảng chưa đảm bảo cung cấp phôi kim loại đạt chất lượng; chi tiết quy chuẩn nhu bu lông, đai ốc,... thiếu về chủng loại và chưa ổn định chất lượng.
Ông Nam cũng nhấn mạnh về sự phân bố sản xuất công nghiệp hỗ trợ chủ yếu tại vùng đô thị nơi có những nhà máy cơ khí lớn: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh. Một số lĩnh vực như thiết bị chế biến gạo, cà phê, thức ăn chăn nuôi, và thủy sản đã bắt đầu tạo nên những liên kết và sự phân công chuyên môn hóa. Tuy nhiên, các lĩnh vực như thiết bị chế biến ván nhân tạo hoặc thiết bị mía đường thì hầu như chưa có sản phẩm hỗ trợ.
Thực tế qua điều tra cho thấy, công nghiệp chế tạo thiết bị chế biến nông- lâm- thủy sản nước ta đã tích cực tiếp cận thị trường, sản phẩm đa dạng, chất lượng khá, đáp ứng khoảng 40% nhu cầu thị trường. Bên cạnh đó, chiến lược quốc gia về phát triển ngành cơ khí xác định lĩnh vực chế tạo thiết bị bảo quản và chế biến các sản phẩm nông nghiệp thuộc công nghiệp ưu tiên.
Song song với nhiều tồn tại và thách thức đó là các vấn đề như: sức mua của thị trường còn nhỏ, chưa đảm bảo quy mô sản xuất kinh tế trong khi vốn ban đầu lớn, lãi suất thấp, rất khó thu hút nước ngoài, công cụ thuế chưa đủ để phát triển thị trường sản phẩm cơ khí. Lộ trình cắt giảm thuế quan tạo điều kiện cho hàng ngoại chất lượng cao, giá thành thấp của các nước công nghiệp phát triển tràn vào và chèn ép sản phẩm nội địa ngay trên sân nhà....
Quy hoạch phát triển cần có định hướng sâu
Nhận xét về quy hoạch phát triển ông Phạm Anh Tuấn- Vụ Công nghiệp nặng – cho rằng, quy hoạch về định hướng phát triển sản phẩm là 2015 sẽ cố gắng đáp ứng 100% nhu cầu thị trường thiết bị trong nước đối với các thiết bị trong chế biến gạo, sắn, cà phê, cao su, chè, điều là không khả thi.
Đồng quan điểm trên, ông Nguyễn Văn Thụ- Hiệp hội doanh nghiệp cơ khí Việt Nam cũng cho rằng: Viện- cơ quan chủ nhiệm quy hoạch- cần tập hợp các cơ chế chính sách thông qua các Quyết định 86, QĐ 10, QĐ 55 va QĐø 497 của Chính phủ để phát triển rộng. Riêng về mía đường, chúng ta nên sản xuất các thiết bị thay thế bằng cách tập họp lại các nhu cầu của các nhà máy mía đường trên cả nước.
Cơ quan tư vấn nên làm sâu hơn về các thiết bị chế biến sấy khô, ép nước hoa quả... Bên cạnh đó, bản quy hoạch cũng nên bổ sung thêm thông tin của các nhà sản xuất để khuyến khích họ sáng tạo và sáng chế các thiết bị.
Thứ trưởng Đỗ Hữu Hào cũng cho rằng, chúng ta nên tận dụng cơ hội này để tập trung vào xem xét bổ sung các dự án về etanol, chế biến tinh bột giấy- vẫn còn nhiều tiềm năng mà chúng ta cần khai thác triệt để. Riêng một số ngành, hàng nên tập trung vào chế tạo thiết bị phụ tùng thay thế để sửa chữa, thiết bị làm đất, máy thu hoạch mía là một ví dụ. Cần quan tâm đến việc phát triển sâu các thiết bị chế biến sâu như sản phẩm gạo, cà phê để tăng giá trị gia tăng. Để là được điều này chúng ta cần phải có định hướng, nhưng định hướng đó phải dựa trên cơ sở có thể thành hiện thực.
Chia sẻ về công nghiệp chế biến hoa quả, Thứ trưởng Đỗ Hữu Hào cũng cho rằng, còn nhiều bất cập, hoa quả của Việt Nam theo mùa vụ, ví dụ như vài thiều chỉ có 1 tháng, còn lại 11 tháng còn lại không có nguyên liệu để sản xuất; những hoa quả để phù hợp chế biến chỉ có dứa, mít chỉ dừng lại ở sấy khô...
Thứ trưởng Đỗ Hữu Hào cũng nhấn mạnh, các dự án trong quy hoạch này thuộc lĩnh vực sản xuất cơ khí nhìn chung ít có tác động xấu đến môi trường xung quanh. Tuy nhiên, quy hoạch xây dựng hoàn chỉnh các khu công nghiệp, khu chế xuất trên cơ sở tuân thủ nghiêm ngặt các quy định bảo vệ môi trường, gắn yêu cầu của sản xuất với bảo vệ môi trường.
Đại diện của Viện Nghiên cứu chiến lược, chính sách công nghiệp kiến nghị với Bộ trưởng Bộ Công Thương, phê duyệt bản Quy hoạch và sẽ đảm bảo theo dõi quá trình thực hiện và đề xuất kịp thời những điều chỉnh khi cần thiết.
Thảo Chi
Thu hút đầu tư sản xuất máy móc chế biến nông sản chưa thực sự hấp dẫn