Người tiêu dùng Mỹ đang gánh trên vai 3000 tỷ đôla nợ nần, nhưng họ vẫn vay mượn, vẫn sắm sửa và vẫn tiêu hoang.
Mùa thu năm 2009, một nhà phát triển phần mềm người anh tên là Jonathan Mitchell thấy mình đang gặp vấn đề. Anh nợ thẻ tín dụng ngày càng nhiều sau khi bạn gái anh bị ốm và không thể làm việc được.
Cuối cùng anh mắc nợ tới 30.000 bảng. “Bạn nghĩ thử xem nếu họ cho tôi vay, tôi phải trả được nợ,” anh nhớ lại.
Anh Mitchell giải quyết được mọi chuyện trước khi nó tới tay tòa án. Anh được tư vấn đăng ký chương trình IVA, một chương trình ở Anh cho phép người đi vay thỏa thuận một kế hoạch giải quyết món nợ của mình.
Sau khi tính tới các chi tiêu thiết yếu, nay anh trả cho chủ nợ 280 bảng/tháng. Nếu giá nhà tăng trong 5 năm tới, anh sẽ phải rút một phần số tiền thế chấp mua nhà ra để trả cho các chủ nợ khác.
Nhưng anh sống cũng không đến nỗi tùng tiệm lắm: vẫn có di động, vẫn có truyền hình vệ tinh.
Anh Mitchell là một trong số hàng triệu người tiêu dùng tại các nước phát triển phải vật lộn với món nợ của mình trong hoàn cảnh kinh tế suy thoái. Theo những tiêu chuẩn của thế kỷ trước, anh đã hạ cánh an toàn.
Không trả được nợ từng bị xem là dấu hiệu của lối sống buông thả. Ngày nay, người cho vay cũng có lỗi ngang với người đi vay nếu tín dụng được cấp cho những người không xứng đáng.
Suy nghĩ cho rằng nợ nần là một tình thế đáng xấu hổ cần phải tránh đã dần phai nhạt kể từ thập niên 1960 khi thế hệ với những ký ức đầu tiên là về cuộc Đại suy thoái dần bị thay thế bởi thế hệ lớn lên trong cơn lốc tiêu dùng những năm 1950.
Mọi người đã quen với việc mua nhà mua xe bằng tín dụng nhưng đột nhiên hàng loạt những mặt hàng tiêu dùng lâu bền như TV, tủ lạnh, máy giặt cũng có thể dễ dàng mua được nhờ đi vay với các điều khoản dễ dãi.
Thẻ tín dụng và thẻ ghi nợ được sử dụng rộng rãi. Người mua không còn phải tằn tiện để có được thứ mình muốn, họ có thể có được chúng ngay lập tức.
Khi số lượng sản phẩm mà họ muốn tăng lên, từ Nintendo Wiis tới iPhones, động cơ để mua trước rồi trả tiền sau lại càng tăng.
“Thái độ của người tiêu dùng đã thay đổi chóng mặt trong vòng 25 năm qua,” Steve Rees từ Công ty quản lý nợ Vincent Bond nói. “Họ đã đi từ mức chỉ nhắm tới những thứ trên mức chi trả của mình một chút tới những thứ vượt xa mức chi trả của mình.
Tất cả điều đó có nghĩa là tăng trưởng tín dụng tiêu dùng vượt xa tăng trưởng GDP ở các nước nói tiếng Anh và tỷ lệ tiết kiệm giảm xuống mức thấp kỷ lục.
Cuối thế chiến thứ hai, tổng tín dụng tiêu dùng ở Mỹ chỉ dưới 5,7 tỷ đôla, 10 năm sau đó nó đã tăng lên 43 tỷ đôla, và thật đáng buồn khi đó mới là màn dạo đầu cho cả một bữa tiệc xa hoa.
Con số ấy cán mốc 100 tỷ đôla năm 1966, 500 tỷ đôla năm 1984 và 1.000 tỷ đôla năm 1994, tức khoảng 4.000 đôla mỗi người. Tháng 07/2008, tín dụng tiêu dùng đạt tới đỉnh cao 2.600 tỷ đôla.
Nợ hộ gia đình tiến sát tới ngưỡng 100% GDP năm 2007, một mức độ chỉ mới thấy có một lần trước đó vào năm 1929, đêm trước của Đại suy thoái 1930.
Khởi động cơn lốc vay nợ ấy không chỉ có Mỹ. Nợ hộ gia đình tại Anh đã tăng từ 105% năm 2000 lên 160% năm 2008, tại Tây Ban Nha, tỷ lệ này tăng từ 69% lên 130% trong cùng kỳ.
Chỉ đôi năm trở lại đây người tiêu dùng mới chịu dừng lại nghỉ ngơi. Ở Mỹ tín dụng tiêu dùng năm 2009 giảm 4,4%. Đến tháng 3 năm nay, tỷ lệ tăng trưởng hàng năm chỉ là 1%. Ở Anh, cho vay qua thẻ tín dụng giảm trong 8 trên 16 tháng kể từ tháng 01/2009 đến tháng 04/2010.
Phần là vì người tiêu dùng tại nhiều nước vì suy thoái và giá nhà giảm nên đã căn cơ hơn. Ở Mỹ nhà đất là cái máy in tiền thời bùng nổ tín dụng khi mọi người thế chấp lại ngôi nhà và lấy số tiền chênh lệch để chi tiêu.
Số tiền rút ra từ các khoản chênh lệch đó tăng từ dưới 20 tỷ đôla mỗi quý năm 1997 lên hơn 140 tỷ đôla trong một số quý của hai năm 2005 và 2006.
Năm 2007, tốc độ tăng chậm hẳn và thậm chí còn giảm xuống dưới mức 0 vào năm 2009 (khi chủ nhà phải thanh toán nợ). Người tiêu dùng cũng cẩn trọng khi vay mượn hơn vì lo ngại lương tăng chậm và thất nghiệp ở đa phần các nước phát triển còn tăng.
Vay mượn ít đi nhiều cũng phần vì người cho vay nay thận trọng hơn đối với tín dụng tiêu dùng. Một điều tra của FED vào tháng 10/2008 giữa giai đoạn tồi tệ nhất của cuộc khủng hoảng tài chính cho thấy 60% ngân hàng giảm hạn mức thẻ tín dụng đối với cả người tiêu dùng cũ và mới.
Giống như người cho vay thế chấp, các công ty thẻ tín dụng hiểu rằng tiêu chuẩn cho vay của mình đã quá lỏng lẻo. Mùa xuân này tỷ lệ vỡ nợ thẻ tín dụng ở Mỹ lên tới con số kỷ lục 13%.
Minh Tuấn
Theo Economist