Nhớ lại một chuyến đi cấp tốc

Xem tin gốc 

Nhân dân - 25 tháng trước 43 lượt xem

Nho lai mot chuyen di cap toc

ND - Cách đây tròn ba mươi lăm năm, Chiến dịch Hồ Chí Minh mở ra nhằm chớp thời cơ nhanh chóng kết thúc thắng lợi chiến dịch lỊch sử Đại thắng mùa xuân 1975, giải phóng hoàn toàn miền nam, thống nhất đất nước.

Biết được ý đồ chỉ đạo quyết liệt đó của Bộ Chính trị, tại Trụ sở Báo Nhân Dân ở 71 Hàng Trống, Hà Nội, Tổng Biên tập Hoàng Tùng cử ngay một tổ phóng viên mang ba-lô "đồ nghề" lên đường cấp tốc vào nam bám lấy những hướng tiến công chính của quân và dân ta đang thần tốc xốc tới. Mặc dù ở thời điểm đó, Báo Nhân Dân đã có hơn chục nam nữ phóng viên đi B từ những năm trước đang rải ra cắm chốt bám trụ ở những vùng chiến đấu ác liệt từ khu 5 vào đông và tây Nam Bộ. Trong số đó có ba đồng chí Nguyễn Ngọc Tú, Nguyễn Trọng Định, Nguyễn Huy đã hy sinh khi làm nhiệm vụ.

Tổ phóng viên được lệnh cấp tốc này lên đường gồm ba "tướng", ba quân. Ba "tướng" là Phó Tổng biên tập Thép Mới; Ủy viên Ban Biên tập Trần Kiên; Trưởng Ban Biên tập Kinh tế nông nghiệp Phan Quang. Ba quân là các phóng viên Hồng Khanh, Khắc Thuyết, Văn Bang. Khi hai xe u-oát do hai "tay lái lụa" của tòa soạn là Nguyễn Dung và Đình Bân chở tổ phóng viên cấp tốc này chạy miết một mạch từ Hà Nội vào đến thị trấn Đông Hà, tỉnh Quảng Trị đã được giải phóng, thì tạm dừng lại. Rồi tổ nhanh chóng chia ra hai nhóm. Nhóm thứ nhất gồm Thép Mới, Khắc Thuyết ngồi xe Đình Bân lái đi lên theo đường số 9 đến Khe Sanh, tạt vào bám đường mòn Trường Sơn đi thẳng vào trong hướng Buôn Ma Thuột, Tây Nguyên để tiếp cận với mũi quân ta từ phía tây thọc xuống Lò Gò, Tây Ninh đến thẳng Sài Gòn. Nhóm thứ hai gồm Trần Kiên, Phan Quang, Hồng Khanh, Văn Bang ngồi xe Nguyễn Dung lái, cứ nhắm thẳng hướng đường trục số 1, rồi tỏa ra bám hai phía ven biển và đồng bằng miền trung mà đi thẳng vào miết...

Từ đó mỗi người dựa vào yêu cầu, đặc điểm, điều kiện thực tế từng nơi, từng lúc, từng mũi tiến công của quân và dân ta mà xoay xở tìm cách bám sát tình hình, lấy tài liệu, suy ngẫm viết bài gửi về tòa soạn ở Hà Nội để góp phần phản ánh và thông tin kịp thời trên báo Đảng. Trong quá trình tác nghiệp cấp tốc này, khó khăn nhất là "công đoạn" gửi bài về tòa soạn làm sao cho kịp. Nếu lơ là, chậm trễ thì bao nhiêu công sức vất vả lăn lộn tìm lấy được tài liệu rồi cặm cụi viết bài ra đó bị đọng lại trong ba-lô sẽ thành của "thiu", công cốc, mất thời điểm sử dụng. Thời điểm đó đất nước chưa có điện thoại di động cầm tay, mạng lưới thông tin liên lạc còn thô sơ và ít ỏi, chỉ dựa vào một số trạm quân bưu, giao liên ở cách xa nhau hàng mấy cây số. Hoặc may ra liên hệ được xe tải, máy bay hậu cần của quân đội chở lương thực, súng đạn từ ngoài bắc vào theo chiến dịch, rồi "bay ra" Hà Nội để gửi bài nhờ họ chuyển về tòa soạn. Trong lúc đó các mũi tiến công của quân ta như vũ bão. Có khi chỉ sau một đêm, hoặc vài ngày sau, quân ta đã tiến sâu vào các tỉnh phía nam hàng mấy chục cây số, từng phóng viên lại phải xoay xở tìm cách bám đuổi theo với đà tiến đó. Cứ thế mà tiến sâu vào theo chiến dịch, vừa nắm tình hình vừa viết bài kịp gửi về Hà Nội.

Đến Thừa Thiên - Huế vừa giải phóng. Thấy đồng bào ta lục tục từ nơi tạm sơ tán trở về nhà. Đường phố Huế ngày một đông hơn. Chợ Đông Ba và tất cả 8 chợ trong thành phố bắt đầu đông người mua bán. Đến ngày 4-4-1975, hơn một trăm giáo viên và thầy dạy đại học, 450 giáo viên trung học đã đăng ký với tổ chức giáo dục. Bệnh viện trung ương Huế đã có 230 bác sĩ, y tá, nhân viên đến ghi tên nhận việc, v.v. Kịp thời tìm hiểu, nắm bắt được tình hình như vậy, ngày 5-4-1975, anh Phan Quang viết ngay bài "Huế mười ngày sôi động" gửi nhờ chiến sĩ lái máy bay chở hàng từ ngoài bắc vào sân bay Phú Bài đem dùm bài báo đó ra Hà Nội. Bài báo ấy đã được Báo Nhân Dân đăng số ra ngày 10-4-1975.

Cùng dịp đó, Hồng Khanh xuống thẳng huyện Phú Vang gần biển Thuận An. Đi trên con đường rải đá từ Vĩ Dạ xuống Hà Trung, chốc chốc lại gặp những đoàn người ngược xuôi, chân bước vội vã, tà áo dài bay theo, không còn ai biểu hiện nét mặt lấm lét, lo sợ. Người thì gánh đầy những bó rau muống, rau củ cải, tất tưởi đến chợ Dương Nổ, chợ Viên Trinh. Đến Thanh Lam Bồ, nghe bà con kể lại, sau ba ngày giải phóng, huyện Phú Vang đã có hàng trăm thanh niên, học sinh xin vào du kích, bộ đội địa phương. Phú Vang là huyện ven thành phố Huế, trong giải phóng là huyện đầu tiên giương cao ngọn cờ cách mạng. Rồi cả 24 xã trong huyện, có 150 nghìn dân, kiên quyết trụ lại không đi theo sự dồn ép của địch. Khai thác được tình hình nóng hổi đó, và sau một đêm một ngày ở lại Phú Vang, Hồng Khanh viết ngay bài "Ngọn cờ Phú Vang", rồi đi ra sân bay Phú Bài, nhờ chiến sĩ không quân ta chuyển về Hà Nội. Bài báo đó được tòa soạn đăng ngày 17-4-1975.

Vào Đà Nẵng vừa giải phóng. Nhìn những dãy ghế gọn ghẽ ở Viện Bảo tàng Chăm ngời lên dưới nắng. Từ trên bệ đá, tượng thần

Xi-va trầm ngâm nhìn những người qua lại, khóe miệng như một nụ cười thỏa mãn. Viện Bảo tàng được quân và dân ta giữ gìn khỏi sự phá phách của lính ngụy trước khi rút chạy và của bọn lưu manh hôi của. "Đó là nhờ công ơn của Cách mạng" - người quản thủ (phụ trách trông nom Viện) nói với phóng viên Báo Nhân Dân Phan Quang - "Nếu quân giải phóng vào chậm một vài ngày thì có lẽ nhiều vật báu trong viện này không còn". Nắm bắt được tình hình sôi động vậy, anh Phan Quang viết ngay bài " Hai thế hệ một tâm tư", gửi về tòa soạn theo đường hàng không mới lập nóng hổi từ sân bay Đà Nẵng ra sân bay Gia Lâm - Hà Nội. Bài báo đó được đăng ngày 14-4-1975.

Cùng lúc đó, Hồng Khanh tìm đến ba cơ sở công nghiệp: Nhà máy điện Đà Nẵng có sức tiêu thụ trung bình mỗi ngày 15 nghìn lít dầu để phát ra điện; Xuởng sợi nhà máy dệt Si-cô-vi-xa có 50 máy sợi, 9 máy xe sợi, 9 máy cuộn sợi; đi chuyến xe lửa có đầu máy mang biển số BB-9270. Chuyến xe lửa đầu tiên chạy từ ga Đà Nẵng đi Cầu Đỏ, đi Chợ Hàn, đi đường Trịnh Minh Thế dài 20 km rồi rẽ ra Lăng Cô, do anh Trần Oanh lái. Người tài xế này trước ngày Đà Nẵng giải phóng thường lái xe lửa trên tuyến Quy Nhơn - Đà Nẵng - Huế. Với tư liệu và khí thế làm việc sau ngày giải phóng của ba cơ sở công nghiệp ấy, Hồng Khanh đã viết bài phóng sự "Đà Nẵng hôm nay" rồi cấp tốc thuê "xe ôm" đi ra sân bay Đà Nẵng nhờ chiến sĩ hàng không ta chuyển về Hà Nội.

Bài phóng sự khoảng bốn nghìn từ ấy được Báo Nhân Dân đăng liền hai số ra ngày 19 và 20-4-1975.

Các mũi tiến công của quân và dân ta ngày càng áp sát ven Sài Gòn. Không thể chậm trễ được nữa. Trần Kiên, Văn Bang (PV ảnh) ngồi xe Nguyễn Dung lái, bám sát theo cánh quân ta tiến vào Sài Gòn từ phía đông. Phan Quang nhanh chóng đi nhờ xe của xưởng phim Việt Nam mới từ Hà Nội vào tức tốc đi thẳng tới Phan Rang, Phan Thiết. Hồng Khanh đi ven vùng biển vội liên hệ được tàu thủy của Đoàn Vận tải không số đi từ cảng Đà Nẵng theo đường Hồ Chí Minh trên biển vào cập bến cảng Nha Trang, rồi liên hệ xe ô-tô khách đi tiếp từ Nha Trang vào Sài Gòn.

Cứ thế, mỗi người tìm mỗi cánh đi, miễn sao kịp bám quân ta xốc tới vào Sài Gòn. Nhờ vậy, đúng mờ sáng ngày 30-4-1975, xe u-oát do Nguyễn Dung lái đã đưa được Trần Kiên, Văn Bang từ phía đông vun vút lướt trên đường số 1 tiến vào Sài Gòn, vượt qua những đoàn xe tăng, xe bọc thép, pháo binh, bộ binh kéo vào ầm ầm không ngớt. Cuộc tiến công ào ào như trào dâng thác đổ. Xe của ba anh Trần Kiên, Văn Bang, Nguyễn Dung đi lối Thị Nghè qua đường Hồng Thập Tự tiến vào Phủ Tổng thống ngụy, khi cờ cách mạng đã được kéo lên trước đó nửa giờ. Trong niềm vui rộn ràng đầy hưng phấn, anh Trần Kiên viết ngay bài ghi nhanh "Theo cánh quân vào Sài Gòn từ phía đông". Bài báo đó được Báo Nhân Dân đăng ngày 3-5-1975.

Nhóm nhà báo, nhà văn Thép Mới và phóng viên trẻ Khắc Thuyết ngồi xe u-oát do Đình Bân lái đi vào từ chân núi Bà Đen, bám sát đoàn xe ô-tô phủ lá cây rừng chở bộ đội chủ lực và cán bộ tuyên huấn Trung ương Cục, các phóng viên báo Giải Phóng, đi suốt đêm qua những cánh rừng, làng mạc và đúng rạng sáng 30-4-1975 chạm cửa ngõ Sài Gòn. Trong bài "Hừng đông của ngày mới", đăng trên Báo Nhân Dân ngày 5-5-1975 của Thép Mới, có đoạn: "Từ chân núi Bà Đen, chúng tôi chào biệt rừng bàng thân yêu. Súng mé thị xã Tây Ninh vẫn còn đang nổ. Cả đoàn hàng mấy trăm xe, cờ phấp phới bay trong nắng tiến thẳng ra đường số 1. Đây rồi Trảng Bàng. Đây rồi Củ Chi còn thoảng bay mùi thuốc súng và hơi cay mà đồng bào đã đổ ra đông nghịt bên đường. Chúng tôi đến Phủ Tổng thống ngụy giữa lúc trên nóc tòa nhà Phủ toàn quyền cũ của Pháp đã phấp phới ba lá cờ của ba đơn vị lớn quân ta thuộc cánh đông, đột kích trong một sớm mai 20 cây số chiều sâu đánh tan một đoàn quân hơn mười trung đoàn địch, trang bị mạnh và phòng thủ kiên cố, đã trước giờ quy định hợp điểm oanh liệt nơi đây... Từ trên nóc nhà đại sứ Mỹ cũ này, chúng tôi đã được ngắm nhìn từng giây phút những đám mây hồng đầu tiên ló rạng. Mặt trời ánh lên rồi! Cả thành phố bừng sáng. Hừng đông của ngày mới".

Và hạnh phúc biết bao, trọn vẹn biết bao. Vài ngày sau, Sài Gòn giải phóng, viết tiếp một số bài gửi về tòa soạn, cả tổ phóng viên Báo Nhân Dân đi chuyến cấp tốc này không hẹn mà lại gặp nhau ở Bến Nhà Rồng, nơi cách nay gần tròn 100 năm, ngày 5-6-1911, Bác Hồ muôn vàn kính yêu đã xuống tàu

Đô đốc La-tu-sơ Tơ-rê-vin để ra nước ngoài tìm đường cứu nước. Con đường đầy gian khổ mà vẻ vang ấy đã được Đảng ta, nhân dân ta chọn làm hướng đi mãi mãi cho Tổ quốc Việt Nam thân yêu.

Từ khóa liên quan

Động từ
Địa danh trong nước
Danh từ
Địa danh thế giới
Khẩu ngữ & Thành ngữ
Cụm từ
Danh từ riêng
Tổ chức

Tin đọc nhiều

Chưa có bình luận nào

Hãy đăng ký hoặc đăng nhập để tham gia bình luận.

Về đầu trang