Một “Vĩnh Phúc thu nhỏ” giữa lòng Thủ đô

Xem tin gốc 

VietnamNet - 26 tháng trước 138 lượt xem

Mot “Vinh Phuc thu nho” giua long Thu do

- Vì cuộc sống khó khăn, vất vả mà hơn 20 năm qua họ theo con nước lớn phiêu dạt về đây sinh sống làm ăn. 60 con thuyền neo đậu ở địa phận phường Tứ Liên, quận Tây Hồ, Hà Nội là chừng đó hộ gia đình đến từ vùng quê Lập Thạch, Vĩnh Phúc. Nghề nghiệp chính của họ là buôn, bán đồ gốm sứ.

Đường vào “xóm thuyền” là một con dốc nhỏ, đất đỏ với lổm nhổm gạch đá, mùa này bị che khuất bởi những vườn quất trĩu quả của người dân phường Tứ Liên.

Mới gần 8 giờ sáng mà cả xóm chỉ loáng thoáng bóng người. Phía rìa sườn dốc dẫn xuống các thuyền, các loại bình, chậu, lọ, bát, cốc…bằng sứ đủ loại xếp thành hàng dài tới gần 1km. Mấy con chó thấy bóng người lạ sủa inh ỏi.

Tất cả cũng chỉ vì nghèo

“Chú tìm ai? Bốn rưỡi, năm giờ mọi người đã lật đật gọi nhau đi làm gần hết rồi. Muốn gặp được đông đủ thì phải tầm 8-9 giờ tối. Sinh hoạt thường ngày ở đây là thế ” – giọng người đàn ông vọng ra từ chiếc thuyền gần ngay lối đầu xóm.

“Ở đây tiếng là người cùng làng, cùng xã nhưng mọi người cũng ít khi có dịp giao lưu lắm, vì còn bận làm ăn. Chú tính đi làm từ tinh mơ gà gáy tới tận tối mịt mới về, tắm giặt, ăn uống rồi đi ngủ lấy sức ngày mai đi làm là vừa. Hôm nay sương xuống nhiều quá. Cánh nhặt sắt vụn, vỏ chai như tụi tôi phải đợi sáng trời hơn chút nữa mới đi”.

Ngồi co ro trong thuyền, anh Đào Quốc Dũng, 41 tuổi, người xã Đức Bác, huyện Sông Lô, Vĩnh Phúc tâm sự: “Vợ chồng mình về đây sinh sống, làm ăn được 20 năm rồi. Ở quê, cụ thân sinh ra mình có tới 11 người con. Nhà chỉ vỏn vẹn sào ruộng cắm rùi, đất đồi ít lấy đâu đủ cho các anh em. Vậy là phiêu dạt làm ăn mỗi người một nơi. Người vào Huế, Sài Gòn, người lên Phú Thọ, Sơn La. Kinh tế ai cũng khó khăn, đường sá đi lại cách trở nên có khi mấy năm anh em không gặp nhau lấy một lần”.

Nói về đời mình, anh kể: “Ngày trước hai vợ chồng chỉ có chiếc thuyền chèo bằng chân, thả lưới buông câu ở đoạn sông Lô chảy qua Vĩnh Phúc. Nhưng rồi cá mỗi năm một ít, thuyền thì gặp đâu nghỉ đấy, thế rồi xuôi về đây”. Gia đình anh Dũng thuộc vào dạng có “thâm niên” sống ở đây.

Thấy nhiều người đi buôn bán đồ gốm sứ “cũng có đồng ra đồng vào”, hai vợ chồng anh cũng học theo. Lâu rồi thành nghề “kiếm cơm” chính của gia đình. Chiếc thuyền anh chị ở hiện tại, trước chỉ có cái khoang trống, rách nát lắm. Đi đâu thấy người ta làm thừa miếng gỗ, thừa ít sơn anh xin về “mông má” lại cho nó. Mãi gần 9 năm mới gọi là tạm ổn như bây giờ.

Sáng chị Huệ (vợ anh Dũng) dậy sớm đẩy xe đi lóc cóc khắp các phố, rao bán từ bình, lọ, chai, cốc,…đủ mặt hàng gốm sứ; còn anh Dũng thì đi lang thang các bến bãi, dọc bờ sông nhặt sắt vụn, chai lọ bán.

“Đồng nghiệp” trong nghề của anh Dũng là anh Phòng Văn Nhơn, người dân tộc Nùng, cũng ở huyện Sông Lô trầm ngâm bên cốc trà nóng mà mắt buồn rười rượi: “Nhà mình 9 anh chị em, trước nhặt sắt vụn ở mãi cửa khẩu Lào Cai. Rồi bị bọn xã hội đen đuổi đánh chí mạng, mỗi người chạy một nơi”.

7 năm trời từ ngày “dạt” về đây, Nhơn vẫn chưa một lần về thăm quê, dù nhà chỉ cách Hà Nội hơn 60km. Các anh chị em, bố mẹ “cũng chẳng biết ai còn, ai mất”. Sáng Nhơn đi nhặt sắt vụn, nhặt rác; tối về anh “xin ngủ nhờ” trên mũi thuyền mỗi nhà vài hôm.

“Chú cứ đi khắp đất Thủ đô, thấy ai bán rong hàng gốm sứ, ghé tai vào hỏi thì gần 100% là dân Vĩnh Phúc chúng tôi. Đa phần bà con chúng tôi đến đây đều là vì ở quê đông anh em, đất ruộng thì vài ba sào, được chút đất đồi thì khô cằn sỏi đá, trồng được ít sắn thì làm sao đủ ăn, lại còn lo cho các cháu đi học được” – chị Dung, người xã Đức Bác sinh sống ở đây đã ngót chục năm than thở.

Không chỉ có người đến từ Lập Thạch, mùa này nước cạn nên một số người thuộc huyện Tam Dương (cũng của tỉnh Vĩnh Phúc) lại tìm về đây mưu sinh. Hàng ngày, họ đánh xe bò xuống đây chở cát thuê cho một số hộ trồng quất, đào và làm xây dựng cách đó 4-5km.

“Mỗi ngày cố gắng thì cũng đánh được chục chuyến xe bò. Mỗi xe người ta trả 10.000 đồng, vị chi là gần 100.000 đồng. Trừ hết ăn uống chi tiêu đi thì cũng “bỏ ống” được dăm bảy chục chú ạ” – vừa xúc cát lên xe bò, chị Lê Thị Hương, 40 tuổi, người xã Hoàng Lâu vừa tâm sự: “Còn chồng mình thì đi làm thuê, đủ thứ nghề, ngày nào cao cũng chỉ dăm bảy chục”.

Khó khăn đủ bề

“Mình ở đây lâu dài nên cũng phải đi đăng ký tạm trú tạm vắng, rồi thì đóng đủ các phí chứ, phí vệ sinh 20.000đ/người. Tiền điện cũng phải mua với giá 3.000đ/KWh, tháng trước vì sử dụng nhiều nên mình phải mua giá 4.200đ/KWh. Đắt lên vợ chồng bảo nhau chỉ dùng khi cần thiết thôi” – anh Dũng cho biết.

“Rồi lại còn tiền phí “đi đường” mấy chục nữa. Không đóng thì người ta chặn trên dốc kia, không cho chở hàng đi bán” – anh Nguyễn Xuân Hòa, 37 tuổi, người xã Đức Bác ra đây sinh sống được gần chục năm cho biết thêm: “Ba bốn tháng thì lại bị phạt 150.000 đồng vì tội “neo đậu tàu thuyền” không đúng nơi quy định. Lều bạt thì chỉ cần căng lên một chút cũng bị dỡ ngay”.

Một ngày tằn tiện chi tiêu, sinh hoạt nhiều lắm thì dư ra được dăm bảy chục, vợ chồng anh lại gửi về cho các con. “Nhà có hai cháu, mình đi suốt nên gửi cả cho ông bà nội chăm sóc. Một tháng hai vợ chồng cắt cử nhau về một hai ngày mang tiền đưa ông bà rồi thăm các cháu, song lại phải đi ngay”.

“Vừa rồi nhà nước còn cấm không cho bán hàng rong. Bà con chúng tôi biết là vậy, nhưng chú tính có phải ai cũng có xe máy và có xe máy thì được đi vào các chợ kiếm chỗ mà buôn bán đâu nên…đành liều ra đứng đường, để rồi cứ thỉnh thoảng lại có người về mếu máo, thất thểu vì bị bắt, thu giữ hết hàng” – giọng chị Huệ rầu rầu.

Hầu hết các hộ khi ra ở đây, con cái đều cậy nhờ ông bà nội, ngoại ở quê chăm sóc.

Khó khăn nhất trong số các hộ có lẽ phải kể đến gia đình anh Dũng: “Gia đình tôi có năm “quả bom nổ chậm”, ở quê phải gửi bên nhà nội, nhà ngoại mấy cháu chăm sóc. Ông bà cho gì các cháu ăn nấy. Một năm vợ chồng tôi cũng chỉ về thăm con được một, hai lần”.

Năm cô con gái của vợ chồng anh chị chỉ còn hai là đang đi học: “Mà chắc mình cũng chỉ lo được cho các cháu học hết cấp II thôi”. Ngồi trong góc thuyền, lấy tay lau vội giọt nước mắt, chị Huệ sụt sùi: “Cha mẹ nào lại chẳng thương con, nhưng mà mình nghèo quá nên đành vậy chứ biết làm sao”. Suốt chừng ấy năm sống tại nơi này, họ cũng chẳng dám cho các con xuống thăm chỗ bố mẹ: “Ở đây ăn uống, sinh hoạt cái gì cũng đắt, mình lấy đâu tiền cho các cháu đi chơi. Để chúng ở nhà thì ngại sông nước, lấy ai trông con những lúc mình đi vắng”- chị Huệ phân trần.

Vợ chồng chị Trần Thị Hạnh, 21 tuổi, người xã Đức Bác mới về đây được hơn một năm. Anh chị cũng vừa có một cháu trai 7 tháng tuổi. Sức còn đang trai trẻ, lại ngại cậy nhờ ông bà nội, ngoại nên thỉnh thoảng hai người mới cho cháu nhỏ về quê.

Khá hơn một chút là gia đình chị Dung: “Nhà tôi hai cháu đều học khá cả. Mấy lần khó khăn quá, chúng nó cứ ôm lấy mẹ đòi cho đi học tiếp. Thôi thì mình cứ cố hết sức cho các cháu học hành dù có phải vay mượn thêm”.

Chỉ tay vào thân chiếc thuyền xi măng đã rạn vỡ nhiều chỗ, anh Hòa than thở: “Cứ tình hình này, thuyền mình không có nước sớm muộn rồi cũng vỡ thôi”. Bỏ ra gần chục triệu mua lại con thuyền này, nhưng anh Hòa cũng chỉ biết ngậm ngùi: “Nước cạn, bốn bề là đất cát thì kéo đi đâu được. Thuyền vỡ thì vợ chồng mình sẽ về quê, đi phụ hồ cho người ta chứ biết làm gì”.

Văn Chung

Chưa có bình luận nào

Hãy đăng ký hoặc đăng nhập để tham gia bình luận.

Về đầu trang