Việc “đối phó” với thi cử hiện nay tiêu tốn không biết bao nhiêu sức lực, tiền tài của toàn xã hội và trên thực tế đang trở thành một gánh nặng. Thực trạng này khiến không ít người cho rằng đã đến lúc phải “xóa sổ” những kỳ thi.
Xét cho đúng, thi là một biện pháp để đánh giá chất lượng đào tạo, một “thước đo” trình độ học vấn thí sinh. Thực tế hiện nay ở nước ta cho thấy nếu không có kiểm tra, đánh giá thì phần lớn học sinh đi học như “đi mò cua bằng giỏ thủng đáy.
Như vậy, các kỳ thi tự nó không có tội tình gì. Chính chúng ta, những người có trách nhiệm nhưng chưa có được cách tổ chức hợp lý, đã biến thi cử thành ra gánh nặng cho toàn xã hội, thậm chí làm cho chúng trở nên “phản tác dụng” và đang bị không ít người lên án.
Hình thức trắc nghiệm còn cho phép và khuyến khích các giải pháp làm bài
sáng tạo. Ảnh: VNN
Một phương pháp đánh giá phù hợp trong tình hình hiện nay
Phương pháp trắc nghiệm không chỉ phù hợp đối với nội dung thi là các kiến thức lý thuyết cơ bản mà còn hỗ trợ tốt cho các câu hỏi dưới dạng bài tập, đòi hỏi tư duy suy luận (như các bài tập tự luận hiện nay). Đặc điểm nổi bật của phương pháp này là có khả năng bao quát toàn bộ chương trình (vì trong một đề thi có thể ra tới hàng trăm câu hỏi), cho nên kết quả thi có độ chính xác cao.
Khi đề thi bao quát toàn bộ chương trình, học sinh không thể "học tủ" theo kiểu "may rủi". Đề thi bám sát chương trình học, lấy yêu cầu nắm bắt kiến thức cơ bản là chủ yếu, mà không mang tính đánh đố dưới dạng các loại bài tập đa dạng (như các bộ đề trước đây).
Điều này, một mặt, khiến cho nội dung thi được giới hạn trong một phạm vi cụ thể, tránh được tệ nạn dạy thêm học thêm tràn lan (vì không biết được thế nào là đủ) và mặt khác, định hướng việc học hành vào những nội dung cần thiết trong tương lai, loại bỏ tình trạng học nhiều mà ít hiệu quả.
Việc chấm bài thi bằng máy cho phép sử dụng nhiều đề khác nhau (nhưng có cùng độ khó như nhau) trong cùng một kỳ thi (một điều không thể thực hiện đối với việc chấm bài bằng tay trong một cuộc thi trên diện rộng). Khi các thí sinh dùng các đề khác nhau thì sẽ hạn chế được rất nhiều tệ nạn gian lận trong thi cử, kể cả từ phía thí sinh lẫn những người tổ chức, quản lý kỳ thi.
Những khó khăn và trở ngại ban đầu
Việc tổ chức thi trắc nghiệm đòi hỏi sự chuẩn bị rất công phu: Cả về mặt thiết lập chương trình hỗ trợ lẫn soạn thảo nội dung câu hỏi trắc nghiệm. Khâu thứ nhất tuy không dễ, nhưng có thể xem là nằm trong tầm tay của của các chuyên gia công nghệ thông tin nước ta hiện nay. Khâu thứ hai tuy không khó, nhưng lại cần sự đầu tư công sức rất lớn, vượt xa sự suy nghĩ của nhiều người.
Nó đòi hỏi phải huy động được năng lực hợp tác của một tập thể rất đông các nhà giáo, nhà chuyên môn trình độ cao. Tóm lại, để có được hệ thống thi cử theo mô hình trắc nghiệm nghiêm túc, việc đầu tư ban đầu khá lớn. Cho đến nay, phần lớn những nơi không thành công trong việc áp dụng hình thức thi trắc nghiệm là do không đủ sức đầu tư thỏa đáng ngay trong giai đoạn đầu.
Nói như vậy không có nghĩa là hình thức trắc nghiệm đòi hỏi đầu tư quá nhiều và không mang lại lợi ích về mặt kinh tế. Ngược lại, việc đầu tư nghiêm túc cho một năm đầu tiên không hề tốn kém hơn những gì mà chúng ta đang phải đầu tư cho một kỳ thi hàng năm hiện nay, còn các khoản chi phí cho việc bổ sung và chỉnh lý chương trình thi trắc nghiệm cho các năm sau là rất nhỏ so với chi phí ban đầu. Như vậy hiệu quả kinh tế lâu dài của hình thức thi trắc nghiệm là điều dễ thấy.
Cái được lớn nhất: "Làm sạch" môi trường thi cử
Bằng việc huy động một lực lượng đông đảo chuyên gia giỏi tham gia vào soạn đề, việc thi cử sẽ không còn bị lệ thuộc vào chỉ một vài cá nhân (vốn tiềm ẩn khả năng rủi ro cao), mà được hỗ trợ bởi một tập thể lớn, trong đó sự "trục trặc" xảy ra với một vài cá nhân ít có khả năng gây ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động của cả hệ thống.
Với tính năng phủ kín nội dung chương trình của ngân hàng đề, các câu hỏi trắc nghiệm vì thế không còn sợ "bị lộ", và hoàn toàn có thể được tái sử dụng. Đây chính là thuộc tính ưu việt cho phép ngân hàng đề mang tính kế thừa và được bổ sung thường xuyên. Do vậy, nó ngày càng được hoàn thiện theo thời gian (chất lượng ngày càng cao) trong khi chi phí đầu tư ngày càng giảm.
Tuy nhiên, cái được lớn nhất của phương pháp trắc nghiệm là đem lại môi trường trong sạch cho các kỳ thi. Trước hết, giải pháp nhiều mã đề và chấm thi bằng máy cho phép mỗi thí sinh làm một đề thi riêng (có nội dung tương đương nhau về độ khó). Khi đó, nạn “quay cóp” sẽ không còn chỗ đứng và hàng loạt tệ nạn khác sẽ bị đẩy lùi.
Việc chấm bài bằng máy làm cho cả người đỗ lẫn người trượt đều thấy thoải mái về sự đánh giá khách quan vô tư, và không làm cho ai nghĩ tới chuyện "chạy chọt". Những ai đã từng trải qua các kỳ thi ngoại ngữ kiểu trắc nghiệm, như TOEFL, hẳn đã tự mình kiểm nghiệm điều này.
Như vậy, với hình thức trắc nghiệm, việc tạo ra môi trường lành mạnh cho mỗi kỳ thi là không khó khăn, và khi ấy hà tất phải thi tập trung tại một số địa điểm. Điều này không chỉ góp phần giảm bớt gánh nặng cho các thí sinh vùng xa, mà còn giải tỏa được cảnh ách tắc triền miên (về mọi mặt) ở các thành phố trung tâm mỗi khi mùa thi đến.
Nếu như có được các trung tâm khảo thí tổ chức việc kiểm tra đánh giá chất lượng học tập một cách thống nhất, thì sẽ khắc phục được rất nhiều điều bất cập trong công tác kiểm tra đánh giá hiện nay. Khi ấy, việc dạy thêm- học thêm (theo mục đích riêng của từng giáo viên) cũng sẽ tự biến đi, vì chất lượng học tập cuối cùng của học sinh sẽ được đánh giá không phải bằng các bài kiểm tra theo ý chủ quan của thầy, mà bằng các bài kiểm tra của trung tâm khảo thí. Cách đánh giá như vậy cũng sẽ cho chúng ta một thước đo chính xác về chất lượng đào tạo của từng trường, từng thầy.
Với các kỳ kiểm tra đánh giá đại trà trên diện rộng thì nên dùng hình thức trắc nghiệm.
Ảnh: VNN
Có chăng sự đối lập giữa hai hình thức trắc nghiệm và tự luận?
Không ít người tưởng rằng hình thức thi trắc nghiệm chỉ thích hợp với những câu hỏi đơn giản, cho nên đã vội cho rằng hình thức này làm mai một khả năng tư duy suy luận của học sinh (thường có được trong quá trình luyện làm các bài tập tự luận), và lấy làm tiếc cho kho tàng bài tập tự luận bấy lâu nay tích cóp được có thể bị mất cơ hội sử dụng.
Thực ra, phần lớn những bài tập toán kiểu tự luận (có trong các sách hiện nay) có thể chuyển thể được sang dạng trắc nghiệm, nhờ những giải pháp không lấy gì làm phức tạp. Đương nhiên, để trả lời cho những câu hỏi trắc nghiệm loại này học sinh cần phải “động não” suy luận giống như những bài làm tự luận thì mới tìm ra được đáp án đúng.
Điều khác biệt so với việc làm bài tự luận chỉ là ở chỗ học sinh không cần phải dành thời gian cho việc trình bày lại các bước tư duy của mình. Có người xem đây là điều “thiệt thòi”, vì người thầy (chấm bài) không có cơ hội theo dõi quá trình dư duy của học sinh.
Tuy nhiên, nếu xét cho kỹ, cái thiệt thòi này là nhỏ so với những cái lợi mà chính điều này mang lại. Ví dụ, do không mất nhiều thời gian cho việc trình bày, thời gian làm bài của thí sinh sẽ được rút gọn, và do vậy số lượng câu hỏi có thể được tăng thêm, do đó nội dung đề cập trong bài kiểm tra sẽ được bao quát rộng hơn.
Ai đã từng chấm bài kiểm tra tự luận đều thấm thía nỗi nhọc nhằn khi phải theo dõi những mạch suy luận vòng vo, quanh co của thí sinh khi họ không có đủ thời gian để sắp xếp nội dung trình bày một cách mạch lạc. Thiết nghĩ, nếu ai đó thấy cần rèn luyện kỹ năng trình bày cho học sinh thì cũng nên dành thời gian thỏa đáng cho công việc này, nhưng không nhất thiết phải gắn nó vào trong những kỳ kiểm tra, vì nói chung học sinh không cảm thấy cải thiện được kỹ năng trình bày của mình chỉ vì một kỳ thi, điều đó đòi hỏi cả quá trình học tập.
Thực tế cho thấy, ngay cả trong những kỳ thi học sinh giỏi (kể cả ở cấp quốc gia và quốc tế) những bài đạt điểm cao không nhất thiết phải là bài được trình bày tốt. Như vậy, không nên hy vọng nhiều ở việc rèn luyện cách diễn đạt, kỹ năng trình bày trong một kỳ kiểm tra, mà nên chú trọng việc này trong các bài giảng của thầy, và đặc biệt là cần dạy và học ngữ văn cho tốt.
Như vậy, bằng việc chuyển sang hình thức trắc nghiệm ta không hề làm mất đi những gì được xem là thành công của hình thức tự luận. Hơn thế, hình thức trắc nghiệm còn cho phép và khuyến khích các giải pháp làm bài sáng tạo, có phần "phi truyền thống", dựa trên tư duy phân tích tình huống kết hợp với khả năng tổng hợp kiến thức cơ bản (để loại trừ các phương án không phù hợp).
Đây cũng chính là cách tư duy được vận dụng nhiều trong việc giải quyết các vấn đề thực tiễn, và rất cần được khuyến khích rèn luyện trong nhà trường. Tóm lại, hình thức trắc nghiệm khách quan không chỉ có khả năng thừa kế những gì được xem là thành công của hình thức tự luận, mà còn khả năng phát triển những thành công đó lên một tầm cao hơn.
Đương nhiên, vẫn tồn tại những bài tập toán không thể chuyển được qua dạng trắc nghiệm một cách trọn vẹn, nhưng những bài loại này không nhiều và thường không mang tính phổ thông. Một khi thấy thực sự cần thiết, người ta vẫn có thể sử dụng những bài tập kiểu này, bởi vì hình thức trắc nghiệm không bao giờ được xem là phủ định hình thức tự luận (ngay cả trong cùng một kỳ kiểm tra).
Về mặt kỹ thuật, không có gì là mâu thuẫn khi trong một kỳ thi ta phát cho học sinh hai loại giấy làm bài: Một tờ phiếu làm phần câu hỏi trắc nghiệm và một tờ giấy làm bài tự luận (cũng như là bấy lâu nay người ta vẫn có thể dùng cả hai hình thức thi vấn đáp và thi viết trong cùng một kỳ thi).
Nói chung, với các kỳ kiểm tra đánh giá đại trà trên diện rộng thì nên dùng hình thức trắc nghiệm, còn các kỳ thi mang tính chất “tinh lọc” thì nên dùng hình thức tự luận hoặc là trắc nghiệm tự luận. Khi cần triển khai “tinh lọc trên diện rộng” thì hình thức phù hợp có lẽ là dùng trắc nghiệm để loại bỏ đi cái phần lớn không đạt yêu cầu và giữ lại một phần nhỏ cho việc “tinh lọc trên diện hẹp”. Điều cốt yếu là chúng ta không nên tự trói mình vào một điều kiện ràng buộc cực đoan nào, mà hãy lựa chọn hình thức nào phù hợp nhất đối với yêu cầu của thực tiễn hiện tại.
Phạm Huy Điển