Tiếng là ở giữa phố, nhà mặt tiền hẳn hoi nhưng ông Toản xây nhà thụt sâu vào trong ngõ. Trong thế giới riêng của mình, 25 năm qua ông ra quy định: “Khách đăng ký trước mới tiếp, còn không thì thôi”. Lúc tôi đăng ký, ông chỉ nói đơn giản, “nếu cần thiết lắm thì mời vào. Còn không thì để hôm khác vì tôi rất bận”.
“Nghĩa trang” 80cm2
Cũng vội vàng như lời hẹn, ông mời tôi vào nhà rồi với tay bật quạt để xua bớt bầu không khí đượm mùi nhang khói. Trong căn phòng ngoài một góc nhỏ đặt bàn nước, phần lớn diện tích còn lại được ông sử dụng để đặt bàn thờ. Cạnh gian thờ tổ tiên ở đây có cả bàn thờ Bác Hồ và một “nghĩa trang” rộng khoảng 80cm2 dành riêng để hương khói cho hơn 4.000 liệt sỹ.
Tôi thắp nén hương. Ngọn nến nhỏ lập lòe, nhảy múa trước chiếc hòm kính chứa khoảng 10 quyển vở các loại đã làm tăng thêm bầu không khí vốn ảm đạm trong căn phòng thiếu ánh sáng. Không giấu vẻ xúc động, ông Toản nói: “Trong chiếc hòm là tên tuổi, đơn vị, có người chúng tôi biết quê quán nhưng có người thì chưa. Một số anh em trong này đã được tìm thấy, đưa về nghĩa trang nhưng gia đình họ chưa biết. Cũng có nhiều anh em có tên tuổi quê quán, nhưng chúng tôi vẫn chưa biết phần mộ ở đâu. Nhưng cho dù biết hay chưa, họ đều là đồng đội của chúng tôi, đều là những người đã nằm xuống cho Tây Nguyên, cho đất nước. Chúng tôi giữ họ ở đây để hương khói trong những ngày lễ tết, ngày rằm. Đến khi có điều kiện, chúng tôi sẽ tổ chức đi tìm. Hoặc không cũng xin làm một nơi để thân nhân những người lính từng chiến đấu ở chiến trường Tây Nguyên lui tới”.
Hộp kính lưu trữ thông tin của hơn 4.000 liệt sỹ
hy sinh trên đất Tây Nguyên.
Nói rồi, ông kính cẩn mở hộp kính. Ngoài những thông tin cá nhân của các liệt sỹ, với nhóm đã được tìm thấy đưa vào nghĩa trang, trong sổ, ông còn ghi tỉ mỉ chi tiết vị trí ngôi mộ. Cẩn thận hơn, ông còn ghi rõ những vật dụng được tìm thấy cạnh hài cốt. Ông Toản kể: “Có những người tìm thấy mộ vẫn còn bán tín bán nghi. Song khi nghe đọc tên những kỷ vật chôn cùng họ mới bật khóc. Có anh khi hy sinh vẫn giữ chặt chiếc lược làm bằng ống pháo sáng khắc tên vợ”.
Không còn nhiều thời gian
Ông Toản sinh năm 1933. Trong chiến tranh chống Mỹ, ông được đề bạt làm Trung đoàn trưởng Trung đoàn 142 Đác Lắc. Hòa bình, ông được phong hàm Đại tá, giữ chức Tham mưu trưởng, Bộ Chỉ huy quân sự tỉnh Đác Lắc. Đến năm 1984 ông về hưu, và gắn mình với công việc sưu tầm, tìm kiếm thông tin liệt sỹ, mộ liệt sỹ.
Trong 25 năm tìm kiếm mộ liệt sỹ, nhóm của ông Toản đã tìm thấy mộ 29 liệt sỹ hy sinh tại Buôn Trấp (huyện Cư M’gar); mộ 34 liệt sỹ hy sinh năm 1967 tại Buôn Trinh (huyện Krong Búc); mộ 76 liệt sỹ hy sinh năm 1968 tại Trung Hòa (huyện Cư Kuin); mộ 14 liệt sỹ hy sinh tại Cheo Reo (huyện A Uyn Pa, Gia Lai)…Và gần đây, từ thông tin trong chiếc hòm kính, gia đình của một liệt sỹ ở Huế đã tìm thấy người thân đã được an táng tại một nghĩa trang liệt sỹ của tỉnh Gia Lai.
“Tôi không tìm hài cốt liệt sỹ bằng ngoại cảm, dù có lúc cũng đã khăn gói đi học” - ông Toản kể tiếp: “Chúng tôi tìm hài cốt liệt sỹ dựa theo hồ sơ từng trận đánh. Trận nào có anh em hy sinh, chúng tôi sẽ khoanh vùng rồi hỏi đồng đội, đồng bào, hoặc dựa theo sơ đồ trận đánh rồi tìm kiếm mở rộng. Có lần chúng tôi đào hai ngày nhưng vẫn chưa tìm thấy. Nhưng chỉ cần một lời hướng dẫn của đồng bào, chúng tôi tìm thấy ngay”.
Tuy nhiên, theo ông Toản thì càng về sau tìm kiếm mộ liệt sỹ càng khó. Bởi, “có những vùng đất chúng tôi có thông tin mộ liệt sỹ nhưng khi đến nơi đã bị san ủi, cày xới”, rồi ông kể tiếp: “Địa hình thay đổi đã đành. Còn khi người dân phát hiện, nhiều người trong số họ cũng không biết báo tin mộ liệt sỹ cho ai. Cách đây vài năm, một hộ dân phát hiện hài cốt liệt sỹ đã báo tin cho… ngân hàng”.
“Tôi đâu có có vĩ đại đến thế”
Ông Lê Minh Toản: "Tôi rất bận".
Chuyện ông Toản đi tìm mộ liệt sỹ 25 năm năm qua đã làm nhiều người ở địa phương kính phục. Như ông Huỳnh Văn Cần, nguyên Bí thư Tỉnh ủy Đác Lắc thì: ““Hắn” (ông Toản) “nghiện” việc lắm. Nghe ở đâu có hài cốt liệt sỹ là đi, xa mấy hắn cũng đi. Nhiệt tình vậy nhưng hắn cũng có nhược điểm là không đi được ô tô. Mỗi lần lên ô tô, với hắn còn khổ hơn đi đánh trận”.
Lối xóm ông Toản mách với tôi, cũng vì “nghiện” tìm hài cốt liệt sỹ mà ông không chịu lấy vợ, hiện ở cùng gia đình cô con nuôi. Tôi hỏi lại, ông Toản quắc mắt: “Tôi đâu có vĩ đại đến thế! Hồi còn chiến tranh, và sau này nữa. Mỗi lần khám cho tôi xong, bác sỹ quân y thường nói nhỏ: "Thủ trưởng cố gắng sau này đừng lấy vợ". Lúc đầu tôi không hiểu. Đến sau này đi khám ở ngoài mới biết bác sỹ nói vậy là do tôi nhiễm chất độc da cam. Nhiễm độc rồi thì lấy vợ, sinh con làm gì cho khổ”.
Ở một mình đôi lúc cũng buồn. Lúc còn làm lãnh đạo Trung đoàn, trong đơn vị có sáu cô bộ đội thì năm cô gọi ông là "thủ trưởng", duy nhất một cô cố tình "vi phạm" điều lệnh gọi ông bằng "bố". Ông Toản kể: “Tôi quát, nó chảy nước mắt, nói: "Nếu con có bố thì không ai bắt nạt con". Nghe xong tôi thấy thương, báo cáo đơn vị xin nhận làm con nuôi. Bị nhiễm độc, không vợ không con, bây giờ có được đứa con biết lại ủng hộ tôi đi tìm đồng đội. Với tôi, thời hậu chiến như vậy là hạnh phúc lắm rồi”.
DƯƠNG QUANG TIẾN