Đó là ý kiến của TS Trần Du Lịch - thành viên Hội đồng Chính sách tài chính tiền tệ quốc gia - trong nội dung trả lời phỏng vấn Báo Lao Động.
- Dư luận cho rằng, LS hiện là một nút thắt trong việc khơi thông nguồn vốn cho nền kinh tế. Nên xử lý vấn đề này thế nào?
- Mặc dù trong những ngày gần đây, áp lực tăng LS huy động và lãi suất cho vay có giảm, nhưng tình hình chung cho thấy việc định hướng chính sách LS trong năm 2010 như thế nào chưa thật rõ nét để phục vụ cả hai mục tiêu vừa kiểm soát lạm phát, vừa bảo đảm thúc đẩy tiến trình phục hồi kinh tế. Do đó, để ổn định tâm lý, thể hiện quyết tâm kiểm soát lạm phát, ưu tiên ổn định kinh tế vĩ mô, đồng thời tạo điều kiện cạnh tranh lành mạnh cho hệ thống NHTM, trong năm 2010, tôi đề nghị Chính phủ thống nhất giao NHNN kiểm soát LS bằng “biện pháp kép”:
(1) NHNN quy định trần LS huy động VND 3 tháng một lần ở mức bảo đảm LS dương khoảng lớn. LSCB chỉ có ý nghĩa định hướng thị trường với mức dao động từ 2-3%, trên cơ sở dự báo chỉ số CPI của quý tiếp theo. Cấm tất cả TCTD vi phạm mức trần này dưới mọi hình thức (như thưởng, ưu đãi khách hàng VIP...). Đây là biện pháp hành chính cần thiết để ổn định và thiết lập trật tự thị trường LS.
(2) Hằng tháng, NHNN vẫn công bố LSCB (LSCB) để định hướng cho vay trên cơ sở LS cho vay bình quân của các NHTM có tỉ trọng khoảng cộng trừ phần trăm nhất định so với mức biến động hằng ngày trên thị trường. NHNN sử dụng các công cụ và nghiệp vụ của mình để điều chỉnh trong giới hạn biến động đó. Các NHTM sẽ cạnh tranh tạo ra mặt bằng LS kinh doanh.
Việc công bố LSCB tuy về hình thức mang tính hành chính, nhưng bản chất “chỉ là tín hiệu của NHTƯ” về việc sẽ sử dụng các công cụ tiền tệ điều chỉnh mức LS theo ý muốn của NHTƯ. Cách làm này sẽ từng bước tiến tới sự hình thành LS dựa theo quan hệ thị trường và NHNN không còn phải sử dụng biện pháp hành chính trong điều hành lãi suất thị trường nữa. Đồng thời, khi thực hiện hai biện pháp trên thì vấn đề cho vay thỏa thuận không còn ý nghĩa nữa và trần LS cho vay theo Bộ luật Dân sự cũng không ai vi phạm được (nên không đặt ra).
- Nếu áp dụng các giải pháp trên, những vấn đề gì có thể phát sinh, thưa ông?
- Việc bỏ trần cho vay có đẩy LS thị trường lên vô giới hạn không? Về khả năng này, trước hết là tùy thuộc vào yếu tố cung-cầu của thị trường và khả năng điều tiết bằng các công cụ tiền tệ của NHTƯ. Có thể trước mắt có những DN do nhu cầu bức xúc về vốn nhất thời, chấp nhận khoảng tín dụng LS quá cao của một NHTM nào đó (thoát ly quá xa LSCB).
Nhưng hiện tượng này không thể thành tình trạng phổ biến, nếu việc ấn định LSCB của NHTƯ phù hợp với thực trạng thị trường. Mặt khác, cũng để cho người đi vay tự lượng định mức LS có thể chấp nhận được dựa vào hiệu quả kinh doanh mà Nhà nước không thể tính toán thay cho họ. Trong kinh tế thị trường có một “cái trần vô hình” là lợi nhuận kinh doanh sẽ khống chế trần LS vay của DN, nên thị trường sẽ tự điều tiết.
Liệu các NHTM có đồng loạt đẩy LS cho vay, theo kiểu ép DN phải chấp nhận mức lãi vay cao vì không có sự lựa chọn không? Tôi nghĩ là không, vì NHNN còn có công cụ để điều chỉnh cung-cầu tín dụng thông qua việc tăng-giảm cung tiền và các nghiệp vụ ở thị trường mở và đặc biệt là quyền tăng dự trữ bắt buộc nếu NHTM “phớt lờ” ý muốn của NHNN. Mặt khác, Chính phủ còn có trong tay hệ thống NHTM của mình (là các NHTMNN, Vietcombank, Vietinbank), hiện đang chiếm tỉ trọng áp đảo trong thị trường tín dụng.
Việc định trần LS có làm giảm lượng vốn huy động của các NHTM không? Theo nguyên tắc, nếu các điều kiện khác không thay đổi thì một khi LS dương 2-3% đã đủ hấp dẫn để huy động nguồn tiết kiệm và tiền nhàn rỗi. Còn nếu NHTM giảm lượng vốn huy động, nhưng tổng đầu tư xã hội tăng lại là tín hiệu tốt (nguồn vốn huy động trực tiếp tăng). Vấn đề cuối cùng là khi không còn khống chế trần LS cho vay thì Nhà nước làm cách nào để có thể bảo vệ người sản xuất nếu chi phí tài chính quá cao. Vấn đề này cần giải quyết bằng nhiều chính sách chứ không thể chỉ bằng cách định LS cho vay thấp hơn “giá vốn” trên thị trường được.
Giải pháp nêu trên trước mắt giải quyết ngay tình trạng 2 loại LS đang tồn tại: LS theo trần 150% LSCB và LS thỏa thuận vượt trần (đây là bước lùi trong tiến trình phát triển thị trường tài chính-tiền tệ của nước ta và đang là cơ hội cho các hiện tượng tiêu cực nảy sinh trong hoạt động tín dụng). Tình trạng này sẽ chấm dứt khi áp dụng biện pháp nêu trên. Nếu giải pháp trên được chấp thuận thì chúng ta có thể tính toán ngay trần LS huy động áp dụng từ quý II/2010 và LSCB tháng 4.2010 dựa trên cơ sở dự báo chỉ số CPI và mặt bằng LS của thị trường trong tháng 3.
- Xin cảm ơn TS!