Phát triển vũ bão!
Tốc độ phát triển của CNTT-TT khiến nhiều người phải kinh ngạc. Tổng doanh thu của bưu chính, viễn thông năm 2009 đạt 143.314 tỉ đồng, tăng gần 61% so với năm trước. Doanh thu ngành công nghiệp CNTT ước đạt 6,26 tỉ USD (tốc độ tăng trưởng 20%), trong đó công nghiệp điện tử, thiết bị viễn thông đạt 4,68 tỉ USD; công nghiệp phần mềm đạt gần 880 triệu USD (tăng 16% so với năm trước); công nghiệp nội dung số đạt khoảng 700 triệu USD (tăng 55%).
Đáng chú ý là năm qua, ngành đã đóng góp thêm cho nền kinh tế một “quả đấm thép” nữa. Đó chính là Tập đoàn Viễn thông Quân đội (Viettel). Với hai Tập đoàn nằm trong tốp 4 Tập đoàn hàng đầu đất nước về doanh thu (VNPT có doanh thu 78.600 tỉ đồng, tăng 30%, đứng vị trí thứ hai và Viettel có doanh thu 60.211 tỉ đồng, tăng 81%, đứng vị trí thứ 4), ngành đã có hai cây cột trụ vững chắc. Cần phải nhìn lại rằng, năm 2009 là năm “liêu xiêu” của nhiều ngành kinh tế, với tốc độ tăng trưởng thấp, thậm chí là tăng trưởng âm. Vậy nhưng, dường như ngành CNTT-TT đã trang bị cho mình một liều vắc-xin miễn dịch màu nhiệm để vẫn giữ được mức tăng trưởng cao, vững vàng vượt qua cơn khủng hoảng kinh tế và vượt lên. Bởi trong bất cứ hoàn cảnh nào thì nhu cầu liên lạc, kết nối của con người vẫn là thiết yếu.
Năm 2009, hai hệ thống cáp quang biển quốc tế có dung lượng lớn gồm Liên Á-Mỹ (AAG) và Liên Á (IACS) đã được kết nối với Việt Nam. Các doanh nghiệp đã phát triển thêm được 28.400 trạm BTS, phủ sóng thông tin di động tới các vùng biển và hải đảo. Tổng số thuê bao điện thoại trên toàn quốc là 130,4 triệu máy (trong đó thuê bao di động chiếm 85,4%). Mật độ điện thoại là 152,7 máy/100 dân (vượt xa con số 50 máy/100 dân theo định hướng đến năm 2015 của Chiến lược phát triển công nghệ thông tin và truyền thông Việt Nam đến năm 2010 và định hướng đến năm 2020). Toàn quốc có trên 22,47 triệu người sử dụng Internet, đạt mật độ 26,2%. Các dịch vụ viễn thông, CNTT tiên tiến nhất thế giới đã được triển khai ở Việt Nam như Internet băng thông rộng, công nghệ 3G. Sự có mặt của vệ tinh Vinasat 1 trên không gian cũng làm nở rộ các công nghệ, dịch vụ truyền hình như IPTV, truyền hình kỹ thuật số, truyền hình độ phân giải cao (HDTV)...
Ứng dụng viễn thông, CNTT trong các cơ quan nhà nước, cũng như xã hội đã trở nên phổ biến. “Chính phủ điện tử”, “hành chính điện tử”, “ngân hàng điện tử”, “hội nghị truyền hình”… đã chứng minh được tính tiện lợi, hiệu quả, nhanh chóng, tiết kiệm hơn so với phương thức cũ. Không những chỉ hoàn thiện mạng lưới trong nước, các doanh nghiệp viễn thông Việt Nam đã mạnh dạn đầu tư ra nước ngoài với hình ảnh tiêu biểu của Viettel với hai mạng viễn thông ở Lào và Cam-pu-chia.
Hối hả “đúc kiềng ba chân”
Thế kiềng ba chân vững chắc, bảo đảm cho sự phát triển của CNTT-TT phải được xây dựng từ ba yếu tố: hạ tầng, thể chế và nhân lực. Theo đánh giá của nhiều tổ chức quốc tế, Việt Nam giữ được tốc độ tăng trưởng cao, có năng lực cạnh tranh toàn cầu về viễn thông, CNTT chính nhờ sự nâng cấp đáng kể về cơ sở hạ tầng CNTT và môi trường pháp lý. Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Tấn Dũng đã nhiều lần khẳng định viễn thông, công nghệ thông tin phải là ngành kinh tế mũi nhọn và Chính phủ sẽ tạo mọi điều kiện cần thiết để thúc đẩy sự phát triển nhanh hơn của ngành. Bộ Thông tin và Truyền thông đang hoàn thiện Đề án đưa Việt Nam sớm trở thành quốc gia mạnh về CNTT-TT.
Năm qua, Luật Viễn thông, Luật Tần số Vô tuyến điện đã được Quốc hội thông qua, sẽ cùng với Luật Công nghệ thông tin, Luật Giao dịch điện tử và các nghị định, quyết định, thông tư đã được ban hành tạo hành lang pháp lý, cơ chế cạnh tranh bình đẳng cho lĩnh vực Thông tin và Truyền thông.
Các chuyên gia, kỹ sư về công nghệ thông tin của Việt Nam có tuổi đời trẻ nhưng rất năng động, sáng tạo. Họ liên tục cho ra đời nhiều phần mềm có tính ứng dụng cao. Ông Nguyễn Đình Chiến, Giám đốc Công ty Cổ phần Công nghệ Viettel (Viettel Technologies) hồ hởi khoe: “Các chuyên gia Viettel Technologies toàn là các tay gạo cội trong viết phần mềm, vẫn đều đặn nghĩ ra các ý tưởng phần mềm mới. Chỉ cần kiểm tra, thấy rằng trên thế giới chưa có một công ty nào có phần mềm ấy là lập tức chúng tôi đăng ký bản quyền ý tưởng và thực hiện ngay”.
Số lao động trong ngành công nghiệp CNTT hiện nay là hơn 200.000 người. Dự báo đến năm 2020, nhu cầu nhân lực CNTT là hơn 600.000 người nhưng khả năng đáp ứng chỉ đạt mức khoảng 400.000 người. Rõ ràng, sức ép đào tạo cán bộ, kỹ sư CNTT hiện nay là rất lớn. Theo thống kê, số các trường có ngành liên quan đến CNTT cả nước là 235 trường trên tổng số 390 trường trong cả nước. Ngoài việc xây dựng đội ngũ nhân viên trình độ cao ngay tại chỗ, các công ty viễn thông, CNTT còn chủ trương thu hút chất xám của các giáo sư, tiến sĩ, chuyên gia CNTT đang làm việc, giảng dạy tại các trường đại học, các trung tâm nghiên cứu ở nước ngoài. Muốn chiêu mộ chuyên gia giỏi phải có đãi ngộ phù hợp, chính vì vậy, lãnh đạo một doanh nghiệp viễn thông cho biết, Thủ tướng Chính phủ đã đồng ý để họ thực hiện cơ chế trả lương “phá rào”, theo hiệu quả công việc.
Việt Nam có rất nhiều lợi thế, triển vọng để phát triển ngành viễn thông công nghệ thông tin. Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực CNTT của các quốc gia trong khu vực như Trung Quốc, Ấn Độ, Xin-ga-po… là những bài học quý cho Việt Nam. Nhìn nhận được mối quan hệ giữa hạ tầng và nguồn nhân lực, Thủ tướng Chính phủ đã chỉ đạo Bộ Thông tin và Truyền thông phải đẩy nhanh Dự án Vinasat-2, rồi cố gắng hoàn thành việc đưa thiết bị nghe nhìn về tất cả hộ gia đình trong năm 2010… Tất cả vì mục tiêu vươn lên kinh tế tri thức.
Bài và ảnh: Hồ Quang Phương