Minh họa: Nguyễn Khánh Toàn.
(Xuân 2010) -
Nguyễn Du mừng đến thảng thốt, không phải vì vua cử đi sứ, mà vì “không ngờ bạc đầu rồi mà vẫn còn được thấy Thăng Long” (Bạch đầu do đắc kiến Thăng Long). Ông cũng than khóc một Thăng Long đã mất khi nhìn thấy cảnh “dinh thự ngàn năm thành đường cái” và “một dãy thành mới làm mai một cung xưa”. Thăng Long, bấy giờ đã là Hà Nội, không còn là kinh đô nữa. Có lẽ ông nghĩ đây là lần cuối cùng và quả đúng như thế.
Chiến sĩ, thi sĩ Huỳnh Văn Nghệ có một câu thơ hút hồn người mãi mãi: Từ thuở mang gươm đi mở cõi/ Ngàn năm thương nhớ đất Thăng Long.
Nhà văn lớn Vũ Bằng với “Thương nhớ Mười hai”, viết về các món ăn, món chơi đất kinh kỳ Hà Nội, thực ra toàn bộ cuốn sách bàng bạc một nỗi nhớ Thăng Long mà vì hoàn cảnh, vì kiểm duyệt không tiện nói thẳng ra mà thôi.
Có thể nói mà không sợ sai, hầu hết những bài ca về Hà Nội, nhớ Hà Nội đều rung động lòng người Việt, dù người Việt đó đang ở đâu, ở chiến tuyến nào.
Sao hai tiếng Thăng Long - Hà Nội luôn làm lòng ta tan nát khi ta nhớ về, như nhớ một cuộc tình, một người tình đã mất. Yêu lắm nên mới nhớ nhiều là thế.
Hà Nội là nơi để đến. Hà Nội cũng là nơi để ra đi. Cuộc di dân nào cũng để lại một vết cứa khó lành trong lòng người, một đường đứt gẫy văn hóa. Có thể người di cư muốn chối bỏ một triều vua như hoàng thân Lý Long Tường thời Lý, có thể do những lời đe dọa có thật hay tưởng tượng, có thể là hậu quả chiến tranh, bức bách sinh kế và muôn vàn lý do này khác.
Nhưng chắc chắn không ai muốn rời bỏ quê mẹ quê cha, cái nôi của đời mình, cái nắng sớm mưa chiều với thông thổ, thức ăn thức uống và bầu không khí dù có bị vẩn đục, dòng sông con suối dù có bị ô nhiễm.
Rời quê đi làm ăn, dù có đi làm vua xứ người thì ai cũng gạt nước mắt mà đi. Nếu ra đi mà chưa muốn khóc hay chưa kịp khóc, còn hưng phấn vì những hy vọng ở chân trời thì dù thành công hay thất bại, nước mắt rồi sẽ rơi vào giờ lâm tử. Maiakovskii có hai câu thơ đại ý: Người ta có thể quên những ngày cơm rượu ê hề cổ cao năm ngấn/ Nhưng không thể nào quên từng đói rét bên nhau.
Lịch sử luôn có dòng xuôi ngược nhưng cuối cùng nước vẫn chảy về Đông. Đất nước đã liền một dải. Cuộc di dân năm 1975, người miền Bắc, miền Trung và người Hà Nội vào công tác hay lập nghiệp ở miền Nam không tức tưởi mà thanh thản như di chuyển trong ngôi nhà hay mảnh vườn của mẹ. Nhưng không phải không có nước mắt chia ly và nhớ nhung.
Những người Hà Nội ở Sài Gòn hôm nay có thể “gửi cho em một ít nắng vàng” vì ngoài kia thiếu nắng và nếu muốn về thăm quê thì họ lên tàu hay máy bay. Nỗi nhớ không còn tuyệt vọng ngàn năm như trong câu thơ Huỳnh Văn Nghệ, như thi sĩ Nguyên Sa, trong những ngày chia cắt nghiệt ngã đành mượn mưa nắng Sài Gòn mà nhớ áo lụa Hà Đông; như nhà văn Vũ Bằng chỉ có thể nhâm nhi các món ăn, món chơi Hà Nội trong câu chữ, phải mang luôn cái ân-hận-nhớ xuống mồ.
Nỗi nhớ đã vơi nhiều trong một đất nước không còn em ở bên này cầu, anh ở bên kia cầu, ở giữa là lính gác. Vẫn còn người ngồi khóc trên sân ga vì không mua được vé tàu về Bắc ăn Tết nhưng không còn nỗi đau “một đi không trở lại” của những người mang gươm mở cõi hay những nông dân đi caosu Sài Gòn thuở nào.
Tôi đã từng xếp hàng mua phở ở quận 13 Paris, và tôi hiểu được thế nào là những món-ăn-sứ-giả-văn-hóa. Những ông bà Việt kiều ở đây đủ lứa tuổi, nguồn xuất xứ, quan điểm chính trị, có thể ném đá vào nhau trong một cuộc biểu tình. Nhưng trước món phở với cái mùi không thể lẫn vào đâu bàng bạc, ngây ngất trong không gian chật hẹp của cái quán nhỏ xô bồ kẻ đứng người ngồi, tất cả như hòa vào một: Việt Nam. Dù có là tạm thời nhưng những giây phút tạm thời xảy ra mỗi ngày theo bữa ăn sáng thì rất có thể thành mãi mãi.
Nếu bạn đến một chung cư bình dân ở Sài Gòn bây giờ như Thanh Đa, bạn sẽ thấy sao nó giống một khu phố bình dân Hà Nội đến thế. Như bắt thóp được cái nết ăn kỹ tính, tinh vi của người Hà Nội, mỗi tuần hai lần, có một gánh hàng cóc bán thực phẩm từ củ hành, múi tỏi đến bánh đúc, bánh cuốn, bánh đa nướng, bánh đa thái, mật mía, miến dong, mộc nhĩ và măng tre măng vầu, cả những quả trứng gà đẻ con so bé xíu nhưng ngon lành v.v... ; tất cả, theo lời vợ chồng người bán, đều được gửi ôtô từ Bắc vào, chỉ thiếu món tươi sống.
Giá cả không cao hơn, có nhiều món còn rẻ hơn vì người bán mua được tận gốc. Những người Hà Nội thuộc lớp “Bắc sớm” hay “Bắc muộn”, có cả Việt kiều gốc Bắc từ Pháp, từ Mỹ về xúm đen xúm đỏ quanh tấm bạt trải ngay xuống lề công viên, hàng hóa hết veo trong một hai tiếng đồng hồ.
Anh bạn tôi sinh ở Sài Gòn, lớn lên ở đây nói không sai: “Cứ thấy ở đâu có bán thực phẩm Hà Nội là y như ở đó cậu có cả một đại gia đình đồng hương. Và nơi nào có đồng hương của cậu là thế nào sớm muộn cũng có một cửa hàng bán rau cỏ và thực phẩm Hà Nội”.
Tháng Mười, mùa rươi vùng đồng bằng Bắc Bộ, khi gió heo may mang về cái lạnh đầu mùa, người Hà Nội giàu hay nghèo cũng cố ra chợ Hàng Bè mua rươi, ăn được một bữa rươi (có thể chỉ một bữa) trong năm. Người ta nói mỗi năm phải được ăn rươi một lần mới chống được bệnh tật mùa đông, cũng như trẻ có lên sởi mới thành người.
Cũng trong những ngày ấy, trong cơn gió chướng và triều cường, người Hà Nội giữa Sài Gòn nháo nhác tìm mua rươi ở vài cửa hàng lớn chuyên bán thực phẩm Hà Nội ở đường Trần Quốc Toản, Điện Biên Phủ... Giá rươi treo trên trời, những 400 ngàn một kilô chứ có ít đâu, nhưng phải quen, phải đặt trước mới có. Rươi được chở máy bay vào, tùy theo con nước “ngoài kia” mà hiện diện ở Sài Gòn buổi sáng buổi trưa hay chiều tối.
Cùng với rươi là củ niễng, thứ rau quý mọc bên bờ ao, bờ ruộng, chỉ thu hoạch mỗi năm một lần, mà lại đúng vào mùa rươi mới hay chứ. Rươi xào củ niễng, rắc mùi ta (ngò rí). Rươi đánh trứng làm chả, thêm lá gừng, vỏ quýt, thịt thăn, rán vàng ăn với bún, mà cũng phải thứ bún miếng Hà Nội, chạm răng vào là dậy lên một hồn đất hồn người quê hương.
Nhờ thị trường nhạy bén và đất nước nối liền, mùa nào thức ấy, người Hà Nội ở Sài Gòn vơi được nỗi thèm khát thời trân mà những Nguyên Sa, những Vũ Bằng khao khát từ lúc lên tàu vào Nam đến tận cuối đời.
Không phải bây giờ mà ngay cả trong cuộc kháng chiến chín năm hay hai mươi năm khốc liệt, khi hy vọng thống nhất chỉ đang thấp thoáng ở chân trời thì Hà Nội vẫn thân thiết, gần gũi mọi người Việt dù ở đang ở phía bên này hay bên kia chiến tuyến. Câu thơ của Huỳnh Văn Nghệ nói lên chính cái “ngàn năm thương nhớ” không chỉ của riêng ai.
Cuộc xâm nhập của văn hóa ẩm thực luôn có hai chiều xuôi ngược. Cái được coi là nết ăn có vẻ cố chấp, cầu kỳ và phức tạp nữa của người Hà Nội trên đất Sài Gòn đi cùng sự hiện diện ngày càng đông của người miền Bắc đã để lại ít nhiều dấu vết. Người Sài Gòn bắt đầu thích “phở” cùng hủ tiếu, bát phở của họ đã ít đường hơn, nhiều người thích ăn bánh cuốn theo kiểu Bắc là có một bát nước chấm, kèm thêm mấy miếng chả quế. Miếng ngon thường rất nhanh tìm được mẫu số chung.
Thăng Long ngàn năm tuổi.
Ngàn năm sau, kinh đô một nước Việt Nam thống nhất đang hiện diện không chỉ trong tâm hồn mà cả trên đường phố Sài Gòn, khi rồng thiêng bay lên bên bờ sông Hồng trong chuyến dời đô của Lý Thái Tổ, nơi đây vẫn còn là một miền đất xa lạ.
Nguyễn Quang Thân