(ĐCSVN) – Các kết quả nghiên cứu về tác động định tính và định lượng của khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc (ACFTA) đối với thương mại và một số ngành công nghiệp của Việt Nam đã được các chuyên gia Dự án Hỗ trợ Thương mại Đa biên Giai đoạn III (EU-Việt Nam MUTRAP III) báo cáo tại Hội thảo “Đánh giá tác động của khu vực mậu dịch tự do ASEAN - Trung Quốc (ACFTA) đối với kinh tế Việt Nam” được tổ chức vào ngày 11/11 vừa qua tại Hà Nội.
Các chuyên gia Dự án báo cáo kết quả nghiên cứu tại Hội thảo
Hội thảo là một trong những sự kiện nằm trong khuôn khổ hoạt động FTA-1 của Dự án Dự án Hỗ trợ Thương mại Đa biên Giai đoạn III (EU-Việt Nam MUTRAP III).
Tham dự và chủ trì Hội thảo có ông Lê Quang Lân, Phó Vụ trưởng Vụ Chính sách thương mại đa biên, Bộ Công Thương; ông Hans Farnhammer, Trưởng Bộ phận Hợp tác kinh tế và Quản trị công, Phái đoàn EC tại Việt Nam; bà Nguyễn Thị Hoàng Thúy, Giám đốc Dự án EU - Việt Nam MUTRAP III, cùng đại diện các bộ, ngành, hiệp hội và cơ quan liên quan.
Tại Hội thảo, các chuyên gia của Dự án đã trình bày các kết quả nghiên cứu, xác định và dự đoán những tác động chính về mặt kinh tế và xã hội của ACTFA đối với Việt Nam, qua đó chỉ ra cơ hội cũng như thách thức của ACTFA đối với nền kinh tế Việt Nam. Theo các chuyên gia, tới năm 2015, khi khu vực mậu dịch tự do ASEAN – Trung Quốc (ACTFA) chính thức hoàn tất, Việt Nam sẽ có nhiều cơ hội tốt từ việc tham gia vào ACTFA,như: có thêm điều kiện nâng cao trình độ lực lượng sản xuất, tranh thủ được nguồn vốn, khoa học kỹ thuật; các hoạt động đầu tư, chuyển giao công nghệ, du lịch, hợp tác đào tạo nguồn nhân lực… của Trung Quốc đối với Việt Nam cũng sẽ tăng lên nhanh chóng.
Tuy nhiên, ACFTA hình thành cũng sẽ ảnh hưởng đến cơ cấu kinh tế và thương mại của Việt Nam, dẫn đến tình trạng quan hệ thương mại Việt Nam – Trung Quốc tiếp tục phát triển theo chiều rộng, trong đó Việt Nam xuất khẩu nguyên liệu, nông lâm thủy sản và nhập khẩu hàng công nghiệp của Trung Quốc. Điều này có thể khiến cho cán cân thương mại giữa Việt Nam – Trung Quốc tiếp tục diễn biến theo xu thế Việt Nam nhập siêu từ Trung Quốc. Hơn nữa, các doanh nghiệp Trung Quốc mạnh hơn doanh nghiệp Việt Nam ngay trong các ngành Việt Nam đang tương đối có lợi thế cạnh tranh như: dệt may, da giày, sản xuất hàng tiêu dùng, chưa kể đến các ngành sản xuất công nghệ cao mà Trung Quốc đều đã và đang phát triển. Vì vậy, khi hàng rào thuế và phi thuế được hạ thấp, hàng hóa Trung Quốc dễ dàng thâm nhập thị trường Việt Nam thì các doanh nghiệp trong nước sẽ cần nỗ lực hơn nữa mới có thể đứng vững trên thị trường nội địa./.