Đề tài chiến tranh luôn được coi là điểm mạnh, nguồn đề tài không bao giờ vơi cạn trong sáng tạo của các nhà điện ảnh Việt Nam. Trong đề tài đó hình tượng người lính luôn được xây dựng với những nét đặc trưng riêng, những điểm độc đáo khác nhau. Qua bàn tay của các đạo diễn, bằng cái nhìn nhiều chiều của họ mỗi người lính lại có tính cách và số phận riêng. Chính điều đó đã tạo nên ấn tượng mạnh mẽ của người xem đối với hình tượng “không mới nhưng chưa bao giờ cũ này”.
Bộ phim “Đừng đốt” của đạo diễn Đặng Nhật Minh được làm dựa trên cơ sở của cuốn nhật ký nổi tiếng về nữ liệt sĩ Đặng Thùy Trâm. Bộ phim ra đời trong niềm mong mỏi, khát khao đến cháy bỏng của những người thân yêu trong gia đình của Đặng Thùy Trâm cũng như những độc giả đã từng đọc cuốn nhật ký này. Mặc dù còn nhiều những ý kiến khác nhau, nhưng không thể phủ nhận rằng đã có rất nhiều người bị ấn tượng với hình ảnh bác sĩ - liệt sĩ Thùy Trâm trên phim. Đạo diễn đã xây dựng hình tượng liệt sĩ Thùy Trâm bằng những tìm hiểu, những câu chuyện và sự tưởng tượng trong tư duy của một người làm điện ảnh.
Trong suốt chiều dài của bộ phim này người ta thấy Thùy Trâm hiện lên thật sinh động và gần gũi. Cô sinh viên mới chạm ngõ cuộc đời lao vào chiến trường bằng tất cả nhiệt huyết của tuổi trẻ, tình yêu đối với đất nước trong nỗi đau chiến tranh. Trong công việc của một nữ y tá cô đã hoàn thành xuất sắc vai trò của mình. Nhưng cái người xem cảm động đó là việc Thùy Trâm yêu thương, chia sẻ nỗi đau, niềm vui hay những hạnh phúc giản dị nơi bom đạn chiến trường với những chiến sĩ trẻ. Tiếng hát của cô cất lên trong trẻo như niềm tin vào tương lai, hi vọng vào hòa bình của đất nước. Nụ cười của cô y tá trẻ ấy như xua tan đi màn đêm của chiến tranh, như giúp người ta thấy ấm áp hơn. Sau mỗi ca phẫu thuật, sau mỗi lần cùng với đồng đội của mình chạy vào hầm trú ẩn… cô lại lặng lẽ trầm ngâm, chiêm nghiệm về những gì đã trải qua nơi chiến trường bằng những dòng nhật ký.
Trong khoảnh khắc im lặng của chiến tranh ấy ta lại bắt gặp những rung động, nỗi nhớ thương trong lòng cô gái trẻ. Đó là nỗi nhớ về Hà Nội thân yêu, về ngôi nhà đầy ắp tiếng cười, nỗi nhớ cha mẹ và có cả nỗi niềm của một tình yêu đầu đời không trọn vẹn. Tất cả đã tạo nên sự thành công cho hình tượng nữ liệt sĩ Đặng Thùy Trâm. “Đừng đốt” giản dị và nên thơ như vậy. Nó khiến những người xem hôm nay như được trở về với quá khứ - quá khứ của những anh hùng…
“Sinh mệnh” của Đào Duy Phúc không phải chỉ là tiếng hát ngợi ca hình tượng người lính. Bộ phim còn là tiếng trở mình thao thức về số phận của họ trong chiến tranh. Gắn bó số phận của cá nhân với số phận của đất nước trong thời chiến ta thấy được nỗi đau, tấn bi kịch cá nhân của mỗi người lính. Không phải là bản anh hùng ca mà đơn giản chỉ là một câu chuyện giản đơn, đầy chất “đời” được đạo diễn gửi gắm vào hình tượng nhân vật Linh.
Hai người anh của Linh đã hi sinh trong chiến trận, Linh vừa kịp lấy vợ chưa được mấy ngày đã phải nhập ngũ. Nỗi mong mỏi có một đứa con, có một đứa cháu của bà mẹ đã đưa người lính này vào một hành trình khó khăn. Phải chiến đấu để bảo vệ đất nước nhưng lại phải tìm cách để trở về gặp vợ và có được một đứa con. Mọi nỗ lực của anh đều không thành. Khi những đồng đội đều lần lượt ngã xuống, màu xanh trên những cánh rừng bị bom tàn phá nặng nề, sự khắc nghiệt của chiến tranh như vây hãm. Đúng lúc đó anh đã cùng Nga- người đồng đội đi cùng mình gieo mầm cho một sinh mệnh bé nhỏ. Cả Linh và Nga đều hi sinh, ngã xuống để nuôi dưỡng , che chở và bảo vệ sự sống cho một sinh linh bé nhỏ. Nó được chào đời trong nỗi nhớ thương da diết, trong những hi sinh lớn lao… Bộ phim là một câu chuyện nhỏ cảm động. Nhưng thông qua câu chuyện ấy ta biết căm ghét chiến tranh, biết yêu và trân trọng tâm hồn, tình cảm, khát khao cá nhân của người lính trẻ.
“Vào Nam hay ra Bắc” câu hỏi cuối cùng ấy cứ vương vấn trong đầu người chiến sĩ trẻ tên Quang trong bộ phim “Vào Nam ra Bắc” của đạo diễn Phi Tiến Sơn. Vẫn khai thác đề tài người lính nhưng trong phim đạo diễn đã đưa cái “lạ”, sự “mới mẻ” vào những câu chuyện chiến tranh. Không phải là những cái chết bi hùng, phim đơn giản đi vào một góc khuất còn nằm bên trong tâm hồn của người chiến sĩ. Cái góc khuất ấy chính là sự tồn tại của cái tôi cá nhân trong mỗi con người, là sự đối lập giữa khao khát sống bản thân và sự hi sinh cho dân tộc. Quang sợ hãi khi chứng kiến cuộc đụng độ trong đêm, run rẩy trước những câu chuyện rùng rợn về chiến tranh qua lời kể của bạn và cũng tiếc nuối vì hi sinh mà “chưa biết tý gì về mùi đàn bà”.. Cứ vậy nỗi sợ hãi trong đầu chàng trai trẻ lớn dần lên và khiến cậu tiến hành một cuộc đảo ngũ. Trong lúc trốn chạy khỏi dân quân trên đường đảo ngũ ra Bắc cậu gặp Lành. Cô bé ngây thơ tin vào những câu chuyện do cậu bịa ra. Rồi như thức tỉnh bởi niềm tin Nụ dành cho mình anh trăn trở và cuối cùng quyết định lên tàu vào Nam đi theo tiếng gọi của Tổ quốc cùng như gửi giúp bé Lành lá thư dành cho bố. Một bộ phim trong sáng khác hẳn với những thước phim chiến tranh thường thấy. Sự mới lạ, tính chân thực, mộc mạc của bộ phim đã làm nên thành công cho tác phẩm này, và khán giả lại được khám phá hình tượng này thông qua góc nhìn khác của Phi Tiến Sơn.
Cảnh phim “Đời cát”
Còn rất nhiều những bộ phim thành công của điện ảnh Việt khai thác cũng như xây dựng hình tượng người lính. Họ có thể được đạo diễn xây dựng trong thời chiến, khi đất nước không ngớt tiếng “bom rơi đạn nổ”, không ngớt những nỗi đau, tiếng thổn thức của những bà mẹ tiễn con, tiếng những người vợ khóc chồng… Đó cũng có thể là hình ảnh người lính từ chiến trường trở về phải đối mặt với “mặt trận không tiếng súng” của thời hậu chiến như: “Đời cát” (Nguyễn Thanh Vân), “Sống trong sợ hãi” (Bùi Thạc Chuyên) hay “Tướng về hưu” (Khắc Lợi). Tất cả tạo nên cái nhìn nhiều chiều, đa diện về hình tượng này.
Hương Giang
Đề tài chiến tranh luôn được coi là điểm mạnh, nguồn đề tài không bao giờ vơi cạn trong sáng tạo của các nhà điện ảnh Việt Nam. Trong đề tài đó hình tượng người lính luôn được xây dựng với những nét đặc trưng riêng, những điểm độc đáo khác nhau. Qua bàn tay của các đạo diễn, bằng cái nhìn nhiều chiều của họ mỗi người lính lại có tính cách và số phận riêng. Chính điều đó đã tạo nên ấn tượng mạnh mẽ của người xem đối với hình tượng “không mới nhưng chưa bao giờ cũ này”.
Bộ phim “Đừng đốt” của đạo diễn Đặng Nhật Minh được làm dựa trên cơ sở của cuốn nhật ký nổi tiếng về nữ liệt sĩ Đặng Thùy Trâm. Bộ phim ra đời trong niềm mong mỏi, khát khao đến cháy bỏng của những người thân yêu trong gia đình của Đặng Thùy Trâm cũng như những độc giả đã từng đọc cuốn nhật ký này. Mặc dù còn nhiều những ý kiến khác nhau, nhưng không thể phủ nhận rằng đã có rất nhiều người bị ấn tượng với hình ảnh bác sĩ - liệt sĩ Thùy Trâm trên phim. Đạo diễn đã xây dựng hình tượng liệt sĩ Thùy Trâm bằng những tìm hiểu, những câu chuyện và sự tưởng tượng trong tư duy của một người làm điện ảnh.
Trong suốt chiều dài của bộ phim này người ta thấy Thùy Trâm hiện lên thật sinh động và gần gũi. Cô sinh viên mới chạm ngõ cuộc đời lao vào chiến trường bằng tất cả nhiệt huyết của tuổi trẻ, tình yêu đối với đất nước trong nỗi đau chiến tranh. Trong công việc của một nữ y tá cô đã hoàn thành xuất sắc vai trò của mình. Nhưng cái người xem cảm động đó là việc Thùy Trâm yêu thương, chia sẻ nỗi đau, niềm vui hay những hạnh phúc giản dị nơi bom đạn chiến trường với những chiến sĩ trẻ. Tiếng hát của cô cất lên trong trẻo như niềm tin vào tương lai, hi vọng vào hòa bình của đất nước. Nụ cười của cô y tá trẻ ấy như xua tan đi màn đêm của chiến tranh, như giúp người ta thấy ấm áp hơn. Sau mỗi ca phẫu thuật, sau mỗi lần cùng với đồng đội của mình chạy vào hầm trú ẩn… cô lại lặng lẽ trầm ngâm, chiêm nghiệm về những gì đã trải qua nơi chiến trường bằng những dòng nhật ký.
Trong khoảnh khắc im lặng của chiến tranh ấy ta lại bắt gặp những rung động, nỗi nhớ thương trong lòng cô gái trẻ. Đó là nỗi nhớ về Hà Nội thân yêu, về ngôi nhà đầy ắp tiếng cười, nỗi nhớ cha mẹ và có cả nỗi niềm của một tình yêu đầu đời không trọn vẹn. Tất cả đã tạo nên sự thành công cho hình tượng nữ liệt sĩ Đặng Thùy Trâm. “Đừng đốt” giản dị và nên thơ như vậy. Nó khiến những người xem hôm nay như được trở về với quá khứ - quá khứ của những anh hùng…
“Sinh mệnh” của Đào Duy Phúc không phải chỉ là tiếng hát ngợi ca hình tượng người lính. Bộ phim còn là tiếng trở mình thao thức về số phận của họ trong chiến tranh. Gắn bó số phận của cá nhân với số phận của đất nước trong thời chiến ta thấy được nỗi đau, tấn bi kịch cá nhân của mỗi người lính. Không phải là bản anh hùng ca mà đơn giản chỉ là một câu chuyện giản đơn, đầy chất “đời” được đạo diễn gửi gắm vào hình tượng nhân vật Linh.
Hai người anh của Linh đã hi sinh trong chiến trận, Linh vừa kịp lấy vợ chưa được mấy ngày đã phải nhập ngũ. Nỗi mong mỏi có một đứa con, có một đứa cháu của bà mẹ đã đưa người lính này vào một hành trình khó khăn. Phải chiến đấu để bảo vệ đất nước nhưng lại phải tìm cách để trở về gặp vợ và có được một đứa con. Mọi nỗ lực của anh đều không thành. Khi những đồng đội đều lần lượt ngã xuống, màu xanh trên những cánh rừng bị bom tàn phá nặng nề, sự khắc nghiệt của chiến tranh như vây hãm. Đúng lúc đó anh đã cùng Nga- người đồng đội đi cùng mình gieo mầm cho một sinh mệnh bé nhỏ. Cả Linh và Nga đều hi sinh, ngã xuống để nuôi dưỡng , che chở và bảo vệ sự sống cho một sinh linh bé nhỏ. Nó được chào đời trong nỗi nhớ thương da diết, trong những hi sinh lớn lao… Bộ phim là một câu chuyện nhỏ cảm động. Nhưng thông qua câu chuyện ấy ta biết căm ghét chiến tranh, biết yêu và trân trọng tâm hồn, tình cảm, khát khao cá nhân của người lính trẻ.
“Vào Nam hay ra Bắc” câu hỏi cuối cùng ấy cứ vương vấn trong đầu người chiến sĩ trẻ tên Quang trong bộ phim “Vào Nam ra Bắc” của đạo diễn Phi Tiến Sơn. Vẫn khai thác đề tài người lính nhưng trong phim đạo diễn đã đưa cái “lạ”, sự “mới mẻ” vào những câu chuyện chiến tranh. Không phải là những cái chết bi hùng, phim đơn giản đi vào một góc khuất còn nằm bên trong tâm hồn của người chiến sĩ. Cái góc khuất ấy chính là sự tồn tại của cái tôi cá nhân trong mỗi con người, là sự đối lập giữa khao khát sống bản thân và sự hi sinh cho dân tộc. Quang sợ hãi khi chứng kiến cuộc đụng độ trong đêm, run rẩy trước những câu chuyện rùng rợn về chiến tranh qua lời kể của bạn và cũng tiếc nuối vì hi sinh mà “chưa biết tý gì về mùi đàn bà”.. Cứ vậy nỗi sợ hãi trong đầu chàng trai trẻ lớn dần lên và khiến cậu tiến hành một cuộc đảo ngũ. Trong lúc trốn chạy khỏi dân quân trên đường đảo ngũ ra Bắc cậu gặp Lành. Cô bé ngây thơ tin vào những câu chuyện do cậu bịa ra. Rồi như thức tỉnh bởi niềm tin Nụ dành cho mình anh trăn trở và cuối cùng quyết định lên tàu vào Nam đi theo tiếng gọi của Tổ quốc cùng như gửi giúp bé Lành lá thư dành cho bố. Một bộ phim trong sáng khác hẳn với những thước phim chiến tranh thường thấy. Sự mới lạ, tính chân thực, mộc mạc của bộ phim đã làm nên thành công cho tác phẩm này, và khán giả lại được khám phá hình tượng này thông qua góc nhìn khác của Phi Tiến Sơn.
Cảnh phim “Đời cát”
Còn rất nhiều những bộ phim thành công của điện ảnh Việt khai thác cũng như xây dựng hình tượng người lính. Họ có thể được đạo diễn xây dựng trong thời chiến, khi đất nước không ngớt tiếng “bom rơi đạn nổ”, không ngớt những nỗi đau, tiếng thổn thức của những bà mẹ tiễn con, tiếng những người vợ khóc chồng… Đó cũng có thể là hình ảnh người lính từ chiến trường trở về phải đối mặt với “mặt trận không tiếng súng” của thời hậu chiến như: “Đời cát” (Nguyễn Thanh Vân), “Sống trong sợ hãi” (Bùi Thạc Chuyên) hay “Tướng về hưu” (Khắc Lợi). Tất cả tạo nên cái nhìn nhiều chiều, đa diện về hình tượng này.
Hương Giang