Irian Jaya (Indonesia) - vùng đất bí ẩn, nơi vỏ ốc, răng thú... chứ không phải là tiền tệ được dùng để trao đổi và con người ở đó vẫn chưa qua thời kỳ săn bắt hái lượm... Những câu chuyện về vùng đất “tận cùng thế giới” ấy đã được ba nhà làm phim Hoài Nam, Thiên Ý và Minh Kỳ của Báo Sài Gòn Tiếp Thị mang về và sẽ ra mắt khán giả truyền hình đầu năm 2010 trên sóng HTV.
Trong đầm lầy và trên núi cao
Trên bản đồ thế giới, Irian Jaya không được ghi tên vì lọt thẳm trong rừng già xích đạo. Không có đường bộ, đường thủy, cách duy nhất đến Irian Jaya là thuê hẳn một chiếc máy bay tải trọng nhỏ (1,3 tấn) khi ở đây may mắn có một sân bay dã chiến do một đoàn làm phim Hoa Kỳ san ủi trước đó. Tuy nhiên, để đến được vùng rừng có những bộ tộc mà lối sống chưa thoát ra thời tiền sử, đoàn làm phim chỉ có một con đường hơn 300 km: 15 ngày trong đầm lầy và 15 ngày trong núi cao.
Phóng viên Hoài Nam nhớ lại chặng đầu cả đoàn luôn phải vượt những ngọn núi cao khoảng trên dưới 2.500 m. Phải đối mặt với việc thay đổi khí hậu liên tục nên thường xuyên khó thở, chóng mặt, ù tai khi lên cao nhưng vẫn phải hoàn thành nhiệm vụ quay hình. Lo nhất là lên cao lạnh quá, máy quay bị đứng, không hoạt động; hoặc hơi lạnh phủ mờ ống kính. Đi 15 ngày trên núi cao, đoàn chỉ tắm được một lần, chỉ lau người bằng khăn ướt.
Đến chặng băng qua đầm lầy còn khắc nghiệt hơn. Không khí âm u, hơi nóng ẩm hầm hập cả ngày, côn trùng, rắn rít nhiều hơn. Chẳng thể quan sát hay biết trước được có gì chờ mình dưới mặt nước khi những người dẫn đường khuyến cáo có cả cá sấu dài 7 m và trăn to như cột nhà. Nhưng cao hơn nỗi lo sợ cho sức khỏe, cả ba người trong đoàn còn lo nhất là việc bảo vệ máy quay. Mỗi bước chân thần kinh đều căng ra tính toán để đưa được những hình ảnh hoang dã ấy trở về cuộc sống hiện đại.
Căng thẳng và lo lắng
Không phân biệt đạo diễn, biên tập hay quay phim, mỗi người đều phải mang máy quay. Nhiều lúc mỏi mệt, căng thẳng quá, có dừng lại ghi hình hay không là một cuộc đấu tranh thật sự, phải dùng đến cả sự biểu quyết để làm theo sự đồng ý của đa số hai người.
Quay phim Minh Kỳ cho biết đi nhiều ngày trong rừng mà chưa gặp được một thổ dân nào, cả đoàn rất lo lắng cho bộ phim, hỏi người dẫn đường đến họ phát bực. Không thể kéo dài ngày đi vượt quá kế hoạch vì sẽ tăng thêm kinh phí, thực phẩm, nước uống cũng không đủ dùng, họ chấp nhận tăng thêm sự gian nan bằng đường tắt khó khăn hơn. Muốn vậy lại phải vất vả thuyết phục người dẫn đường để họ chấp nhận. Bởi thế, những ngày như vậy, đoàn chẳng thể quay hình, có khi phải năn nỉ người dẫn đường chỉ dừng lại vài phút cho mình quay một chút...
Khao khát gặp thổ dân cuối cùng đã thành sự thật khi đoàn bắt gặp mùi phân heo rừng thuần hóa. Đến giờ, cả ba nhà làm phim vẫn còn chưa hết ám ảnh về thứ mùi hoang dại khó chịu ấy. Nhưng đó cũng là lúc đánh dấu sự chinh phục một trong những vùng đất hoang dã nhất của hành tinh đã thành công.
Giá trị mang về
Khi được hỏi đi có ba người như vậy vào thế giới rừng già có sợ bị cướp không, ba phóng viên vừa trở về ngơ ngác như... thổ dân và cười bảo đồng tiền, vàng ở vùng đất ấy không có chút giá trị nào.
Ba bộ tộc Dani, Yali, Korowai ở Irian Jaya chẳng có thứ gì để mua bán hay trao đổi. Trong nhà thổ dân không có gì, kể cả thức ăn dự trữ. Bộ tộc Dani, Yali đã biết trồng khoai lang, khoai môn, thuốc lá hay nuôi heo rừng. Họ đặt cho heo cái tên như con người, vì quan niệm thứ gì không tên là của rừng. Xem heo như bầu bạn, cho vào nhà ngủ chung kế bên chủ. Bộ tộc Korowai chỉ thuần săn bắt và hái lượm. Không có kim loại, chỉ sử dụng rìu và dao đá. Thứ quý giá nhất ở vùng đất này là vỏ ốc, răng nanh chó rừng và heo rừng, hay thuốc lá dùng để trao đổi lương thực hay cưới vợ.
Mọi đồ vật, dụng cụ của đoàn làm phim, kể cả con người đều là thứ lạ lẫm với thổ dân. Lấy cái đèn pin ra, họ ồ lên. Đèn bật sáng, họ càng ồ dữ dội. Thậm chí thấy cái ngoáy lỗ tai họ cũng ồ... Ba anh chàng người Việt đi vệ sinh hay thay đồ đều rất khổ sở vì làm gì họ cũng theo nhìn. Họ suy nghĩ và trả lời rất chậm vì ngoài kiếm cái ăn hằng ngày, những bộ tộc này chưa hề phải suy nghĩ điều gì. Song họ sẽ giận dữ nếu bị đối xử không công bằng. Hôm đoàn tuyển người khuân vác ở trung tâm bộ tộc để vào sâu trong rừng, nghe tin, từ sáng sớm cả ba làng xung quanh đều kéo đến. Ai cũng muốn đi vì đi sẽ được cho ăn cơm. Cuối cùng đoàn tuyển mỗi làng đều bốn người nhưng vẫn không tránh khỏi sự giận hờn của nhiều người còn lại. Có người không được tuyển cũng cứ đi theo mãi, có cả phụ nữ có con nhỏ. Cuối cùng, đến giờ cơm, đoàn phải mời tất cả dùng bữa.
Một tháng ở Irian Jaya, ba phóng viên Việt Nam đã mang về rất nhiều giá trị: Niềm tự hào người Việt tự mình mở cánh cửa thế giới để khám phá. Những bài học từ thế giới hoang dã: Cách sống hòa hợp cùng thiên nhiên, hạnh phúc của con người khi đời sống không bị phụ thuộc vào vật chất hay tác động của quyền lực... Và còn cả nỗi ưu tư khi hòa lại vào cuộc sống hiện đại, như lời của phóng viên Hoài Nam: “Chúng tôi đã tự hỏi khi mình đến đây là đem thế giới văn minh đến giúp họ hay làm hại cuộc sống thanh bình của họ? Chỉ mong mình sẽ góp một chút ít vào việc đưa thông tin về vùng đất bí ẩn nhất của thế giới đến với mọi người”.
Bước chạy đà cho “Discovery Việt Nam”
Bộ phim truyền hình mang tính thực tế và khám phá Nơi tận cùng thế giới gồm 30 tập, mỗi tập 10 phút. Nhà báo Binh Nguyên, chủ biên bộ phim Nơi tận cùng thế giới, cho biết kinh phí cho đoàn làm phim đi Irian Jaya cùng với phần hậu kỳ khoảng 1,5 tỷ đồng, cầm chắc lỗ vốn. Tuy nhiên, nếu bộ phim thành công sẽ là bước chạy đà rất tốt cho dòng phim “Discovery Việt Nam”. Sau Nơi tận cùng thế giới thì loạt phim khám phá về con đường tơ lụa từ Tây An (Trung Quốc) đến Thổ Nhĩ Kỳ và khám phá Siberi (Nga) sẽ được bấm máy trong thời gian tới.