Những nét chính về kinh tế thế giới và trong nước
Đánh giá chung về tình hình kinh tế thế giới, những nét chính được đề cập trong báo cáo là việc Kinh tế Mỹ có dấu hiệu phục hồi nhưng còn khá mong manh do thị trường việc làm yếu và BĐS trì trệ, bên cạnh đó Mỹ có thể đối mặt với thâm hụt ngân sách lớn trong năm tài khóa 2010.
Trong khi đó ở các nước Châu Âu, kinh tế phủ bóng mở bởi khủng hoảng nợ Hy Lạp, khiến đồng EUR mất giá mạnh trong quý.
Còn ở các nước Châu Á, Áp lực lạm phát gia tăng ở các nước châu Á, đặc biệt là các nước châu Á mới nổi. Nói đến kinh tế khu vực Châu Á, phải nhắc đến Trung Quốc, nhìn tổng qua, Trung Quốc tăng trưởng khá tuy nhiên đối mặt nguy cơ lạm phát và bong bóng bất động sản do đó các gói hỗ trợ có thể sẽ sớm bị rút bỏ.
Nhìn lại kinh tế trong nước năm 2009, trước những khó khăn của nền kinh tế, chính phủ đã phải thực hiện chính sách kinh tế mở rộng để kích thích nền kinh tế. Về chính sách tiền tệ, lãi suất cơ bản đã được giảm từ 10% năm 2008 xuống 8,5% vào tháng 1 năm 2009, giảm tiếp xuống 7% vào tháng 2 và giữ nguyên trong suốt 11 tháng. Gói kích cầu thứ 1 với biện pháp chủ yếu là hỗ trợ lãi suất cũng đã giúp nhiều doanh nghiệp tiếp cận được với nguồn vốn rẻ, góp phần làm tăng tín dụng năm 2009 lên đến 38%. Bên cạnh hỗ trợ lãi suất, chính sách tài khóa cũng được mở rộng với việc giãn hay giảm một số loại thuế cho doanh nghiệp, tăng chi tiêu đầu tư xây dựng cơ bản. Với những biện pháp hỗ trợ như vậy, kinh tế Việt Nam đã có những dấu hiệu phục hồi, bắt đầu từ quý 2, và tăng trưởng trong quý 4 đã đạt 7.62%.
Tuy nhiên, trước những mất cân đối lớn của nền kinh tế và sức ép lạm phát gia tăng, NHNN đã chính thức phá giá VND 5,4% vào cuối tháng 11, đồng thời nâng lãi suất cơ bản từ 7% lên 8%, đặt mục tiêu tăng tín dụng cho năm 2010 chỉ là 25%, chấm dứt gói kích cầu số 1 và chuyển sang gói thứ 2 với lãi suất hỗ trợ giảm và chỉ hướng đến vốn trung và dài hạn ở khu vực trực tiếp sản xuất và nông thôn.
Đây rõ ràng là thông điệp chính sách thắt chặt ngay trước thềm năm 2010. Cùng với kế hoạch cả năm được thông qua, có thể hiểu mục tiêu chính sách năm 2010 là ổn định kinh tế vĩ mô và đạt mức tăng trưởng hợp lý.
Dự báo 4 kịch bản chính sách có thể xảy ra
Trong quý I/2010 đã phá giá tiền đồng thêm 3,3% do thị trường ngoại hối tiếp tục căng thẳng bất chấp Chính phủ yêu cầu các Công ty lớn bán USD nên ngày 11/2/2010, NHNN đã phải tăng tỷ giá chính thức từ 17.941 đồng lên 18.544 đồng, đồng thời giảm lãi suất tiền gửi USD của các DN xuống còn 1%, Những động thái này đã góp phần giảm nhiệt thị trường ngoại hối. Trong nửa cuối quý 1, tỷ giá NHTM đã gần sát với tỷ giá tự do.
Theo dự báo, mặc dù nhập siêu vẫn là một nguy cơ lớn trong năm 2010, khi kinh tế trong nước hồi phục, nhưng nguồn tiền từ kiều hối, FDI giải ngân, vốn ODA (theo những cam kết đã công bố) vẫn có khả năng tài trợ được thâm hụt thương mại. Vì thế, mặc dù, tỷ giá vẫn có xu hướng tăng, nhưng những động thái quyết liệt của NHNN như phá giá mạnh tiền đồng hay thay đổi biên độ giao động có thể sẽ không tiếp tục từ nay cho đến cuối năm 2010, đặc biệt trong bối cảnh nguy cơ lạm phát cao trong năm.
Giữ nguyên LSCB 8% trong quý 1: Trái với dự báo và kỳ vọng của thị trường, NHNN vẫn quyết định giữ nguyên LSCB 8% trong suốt quý 1, và kéo dài thêm cho cả tháng 4, mặc dù đã cho phép vay trung và dài hạn được áp dụng theo cơ chế lãi suất thỏa thuận từ ngày 26/2. Việc giữ nguyên LSCB có thể do NHNN vẫn đánh giá lạm phạt tăng trong quý 1 chủ yếu bởi biến động giá lương thực mà không xuất phát bởi yếu tố tiền tệ. Đây cũng có thể là một chỉ dấu trấn an khi thị trường đã chứng kiến những thay đổi dồn dập về tỷ giá, giá xăng, giá điện, và giá các hàng hóa cơ bản khác.
Tuy nhiên, với quy định lãi suất huy động không vượt quá 10,5% (khi LSCB vẫn giữ nguyên là 8%), các NHTM đang gặp khó trong huy động vốn. Vì thế các NH phải tăng lãi suất huy động gần như kịch trần kèm khuyến mãi. Tuy nhiên, do vướng trần, NHTM không có được đường cong lãi suất chuẩn, nên việc huy động vốn trung và dài hạn rất khó khăn, vì người dân và các DN có xu hướng gửi kỳ hạn ngắn. Trong khi đó, theo quy định, các NH chỉ được phép sử dụng không quá 30% vốn huy động ngắn hạn để cho vay trung và dài hạn. Điều này tất yếu dẫn đến lãi suất trung và dài hạn, sau khi được cho phép thỏa thuận, đã tăng lên một mặt bằng khá cao (từ 14-17%), gần chạm đến ngưỡng chịu đựng của các DN.
Nếu năm 2009, các DN được hỗ trợ 4% lãi suất nên thực tế chỉ phải trả 6-7% thì quý 1 năm 2010, các DN phải trả chi phí vốn cao hơn 2,5 lần. Đây có thể gọi là một cú sốc, khiến sự hồi phục kinh tế, vốn chưa hẳn đã vững chắc, sẽ không dễ dàng. Ngoài ra, lãi suất trần trái phiếu chính phủ (một hình thức đầu tư an toàn nhất) đã được tăng lên mức 12% vào giữa tháng 3, cao hơn so với trần lãi suất tiết kiệm (10.5%) là một nghịch lý.
Dù bất kỳ lý do, việc để trần lãi suất đầu vào, trong khi thả lãi suất đầu ra, là một hình thức kiểm soát mang tính hành chính, luôn là một thất bại thị trường khiến thị trường méo mó và không thể khơi thông. Vì thế, trong thời gian tới, sức ép lên LSCB và quy định lãi suất trần huy động sẽ vẫn tiếp tục gia tăng.
Từ những đánh giá trên, Trí Việt dự báo một số kịch bản chính sách có thể xảy ra và phụ thuộc nhiều vào chỉ số lạm phát và mức độ tăng vốn huy động và tín dụng.
Kịch bản thứ Nhất là Bãi bỏ LSCB hoặc cho phép cả cho vay ngắn hạn theo cơ chế lãi suất thỏa thuận tuy nhiên Trí Việt cho biết kịch bản này rất ít khả năng xảy ra bởi lãi suất cơ bản được quy định trong Luật Ngân Hàng, trần lãi suất cho vay bằng 150% lãi suất cơ bản được quy định trong Bộ Luật Dân sự.
Kịch bản thứ Hai và kịch bản thứ 3 là tăng trần lãi suất huy động hoặc xóa bỏ trần lãi suất huy động. Hai kịch bản này đều có tác dụng khơi thông một phần thị trường vốn, mặc dù chưa phải đã triệt để.
Một số ý kiến lo ngại về cuộc đua lãi suất huy động như năm 2008 khi hai kịch bản này xảy ra. Tuy nhiên, lo ngại này không có cơ sở bởi các NH hiện đang có mức thanh khoản không đến mức quá tệ như thời điểm hai năm trước, khi NHNN áp dụng biện pháp thắt chặt tiền tệ mạnh (ví dụ yêu cầu các NHTM mua tín phiếu bắt buộc) nên các NH thiếu hụt vốn rất lớn và phải chạy đua lãi suất huy động. Ngoài ra, tín dụng năm 2010 bị hạn chế ở mức thấp 25% nên nhu cầu vốn huy động sẽ không quá cao bức bách.
Nếu hai kịch bản này xảy ra, các NH có thể tăng được lãi suất huy động trung và dài hạn, huy động được thêm nhiều nguồn vốn này, và theo đó có thể cung cấp vốn cho các doanh nghiệp với giá rẻ hơn. Với đường cong lãi suất chuẩn hơn cùng với huy động vốn ngắn hạn sẽ không quá căng thẳng khi tín dụng bị hạn chế ở mức 25%, lãi suất huy động ngắn hạn có thể sẽ giảm dần, theo đó, kỳ vọng lạm phát của người dân cũng sẽ giảm theo.
Có cùng hệ quả trong ngắn hạn đối với thị trường, nhưng do LSCB vẫn được thị trường coi là một chỉ dấu của chính sách tiền tệ, nên khả năng kịch bản 2 xảy ra (với mức tăng khoảng 0.5% đến 1%) sẽ cao hơn nếu lạm phát vẫn tăng cao trong quý 2.
Kịch bản thứ Tư là Không có thay đổi nào về LSCB và quy định trần huy động. Trong trường hợp này, NHNN sẽ phải dùng nhiều đến các công cụ chính sách tiền tệ khác. Khi đó, nếu việc huy động vẫn khó khăn, tính thanh khoản kém đi, NHNN có thể sẽ phải bơm nhiều tiền hơn qua TT mở, hay có thể giảm lãi suất chiết khấu hoặc dự trữ bắt buộc. Tuy nhiên kịch bản này, nếu liều lượng quá tay, sẽ gây sức ép thêm lên lạm phát do cung tiền tăng. Vì thế, kịch bản này chỉ có khả năng xảy ra nếu mức lạm phát trong các tháng tới không quá cao và thanh khoản của hệ thống ngân hàng kém đi.
Dự báo lạm phát tháng 4 ở mức từ 0,72% đến 0,98%.
Trong quý II và đến cuối năm lạm phát có thể phải chịu những sức ép từ các cú sốc tổng cung và cú sốc tổng cầu, nếu chính phủ không có những giải pháp quyết liệt hơn nữa.
Đối với cú sốc tổng cung, dự báo kinh tế thế giới vẫn tiếp tục hồi phục theo đó giá của các yếu tố sản xuất sẽ gia tăng mạnh, Cũng theo IMF, giá nguyên liệu thế giới sẽ tăng 16% năm 2010. Theo Global Economic Research1, giá các nguyên liệu và đầu vào cơ bản sẽ tăng mạnh trong nửa đầu năm, do nhu cầu cao từ các nền kinh tế mới nổi cộng với phục hồi sản xuất công nghiệp Mỹ. Trong khi đó, sản xuất nội địa cũng được dự báo phục hồi, nên nhu cầu nhập khẩu các yếu tố đầu vào sẽ tiếp tục gia tăng trong thời gian tới. Cộng với việc tiền đồng vẫn theo xu hướng giảm giá (xem thêm phần tỷ giá), và dự báo có thể chính thức mất thêm 2-3% vào cuối năm, đã khiến yếu tố này có thể là một trong những tác nhân chính làm tăng lạm phát trong thời gian tới.
Đối với cú sốc tổng cầu, với mức tăng cung tiền và tín dụng đạt đỉnh vào tháng 8 đến tháng 10 năm 2009 (tín dụng ở mức 38%) thì dự báo lạm phát “cơ bản” năm 2010 sẽ tăng dần cho đến cuối quý 2, đặc biệt là tháng 4 và tháng 5, rồi sau đó mới có xu hướng giảm, nếu chính sách thắt chặt phát huy tác dụng. Cùng chung quan điểm lạm phát quý 3 có thể không tăng cao, do tác động trễ của việc tăng trưởng tín dụng quý 1 thấp so với cùng kỳ các năm trước.
Bên cạnh chính sách tiền tệ, chính sách tài khóa cũng có thể gây sức ép đến lạm phát trong thời gian tới. Thâm hụt ngân sách chính phủ dự toán năm 2010 là 6,2% GDP, có nghĩa là mức cầu chi tiêu của chính phủ vẫn khá cao. Tuy nhiên trong quý 1, NSNN mới chỉ bội chi 11,1 nghìn tỷ đồng, bằng 3% so với GDP thực. Điều này cho thấy ở những quý sau, mức thâm hụt ngân sách sẽ gia tăng và nguy cơ lạm phát từ cú sốc cầu là có thể xảy ra.
Thông qua phân tích cơ bản ở trên, Trí Việt dự báo lạm phát sẽ tiếp tục tăng cho đến hết quý 2 năm 2010 và có thể giảm nhẹ đôi chút trong quý 3. Sử dụng các mô hình kinh tế lượng (với giả định các chính sách chính phủ không có đột biến lớn) cho thấy lạm phát tháng 4 có thể tăng từ 0,72 đến 0,98% theo tháng. Nếu tính theo năm, thì lạm phát tháng 4 sẽ cao nhất trong 4 tháng trở lại đây (từ 9,87 đến 10,16%).
Tăng trưởng tín dụng sẽ tăng cao hơn trong thời gian tới
Nhìn nhận về tình hình của các Ngân hàng Thương mại, Trí Việt nhận định trong quý I thì thời điểm trước tết âm lịch tính thanh khoản của nền kinh tế rất kém, là hệ quả của sự đột ngột chuyển hướng chính sách thắt chặt từ cuối năm 2009. Đến nay, nhìn chung, thanh khoản hệ thống ngân hàng đã tốt hơn và chưa có vấn đề gì lớn bởi lượng tiền huy động được trong tháng 3 đã tăng và chủ yếu vẫn từ nguồn dân cư.
Tăng trưởng tín dụng Quý I/2010 ở mức thấp và dự báo sẽ tăng cao trong thời gian tới với đà hồi phục chung của nền kinh tế, đặc biệt là khi “room” cho tăng trưởng tín dụng còn nhiều ở những tháng kế tiếp, nên các NHTM sẽ có thể sẽ giảm tiếp lãi suất cho vay và tăng cường cho vay hơn nữa.