Tiềm năng lớn từ Ấn Độ
Trong chuyến thăm và làm việc kéo dài 4 ngày của Tổng thống Hàn Quốc Lee Myung-bak đến Ấn Độ vừa qua, bên cạnh những hợp tác kinh tế được ký kết, Học viện Nghiên cứu vũ trụ Hàn Quốc (KARI) và Tổ chức Nghiên cứu vũ trụ Ấn Độ (ISRO) đã ký bản ghi nhớ hợp tác trong lĩnh vực vũ trụ phục vụ hòa bình. Cũng cùng thời điểm trên, Tổ chức Nghiên cứu vũ trụ Ấn Độ (ISRO) cũng đã công bố việc thử nghiệm thành công động cơ tên lửa S-200, là động cơ tên lửa lớn thứ 3 trên thế giới sử dụng nhiên liệu rắn. Đây là thành công có ý nghĩa đột phá của Ấn Độ trong lĩnh vực phát triển loại tên lửa đẩy có khả năng đưa cùng lúc nhiều vệ tinh lên quỹ đạo địa tĩnh của trái đất.
Đầu năm nay, Tổ chức Nghiên cứu và Phát triển quốc phòng Ấn Độ (DRDO) thông báo về việc nước này đang phát triển một hệ thống vũ khí nhằm vô hiệu hóa các vệ tinh thù địch hoạt động trong quỹ đạo gần trái đất và quỹ đạo địa tĩnh. Bên cạnh đó, Ấn Độ cũng đang nghiên cứu cách ngăn chặn đối phương tiếp cận chính các vật thể không gian của họ.
Trong nỗ lực tăng tốc để bắt kịp các quốc gia phát triển khác trong lĩnh vực chinh phục không gian, Ấn Độ đã kịp ghi cho mình những cột mốc đáng nhớ. Tháng 10-2008, Ấn Độ phóng thành công tàu vũ trụ không người lái Chandrayaan-1 lên mặt trăng, trở thành nước thứ 6 trên thế giới và nước thứ 3 (sau Nhật Bản và Trung Quốc) ở châu Á khám phá mặt trăng bằng tàu vũ trụ của nước mình. Chiếc tàu này đi theo quỹ đạo mặt trăng, tập hợp bản đồ 3D về bề mặt mặt trăng và vẽ sự phân bổ các nguyên tố và khoáng sản. Không chỉ với mục tiêu vẽ bản đồ bề mặt mặt trăng, Ấn Độ còn có những mục tiêu xa hơn thế. Với sứ mệnh 2 năm này, Ấn Độ đã góp phần tạo nên cuộc chạy đua vũ trụ trong thế kỷ 21, sau khi tàu vũ trụ của Nhật Bản và Trung Quốc đã bay vào quỹ đạo quanh mặt trăng.
Những người phản đối kế hoạch đầy tham vọng này của Ấn Độ thì cho rằng, không nên tiêu phí một khoản tiền khổng lồ vào một dự án chưa thấy có lợi lộc gì. Bởi vì, ở Ấn Độ, có khoảng 800 triệu trong số 1,1 tỷ dân thu nhập dưới 2 USD/ngày, nơi mà điều kiện dinh dưỡng cho trẻ em chỉ tương đương với các chỉ số của các nước nghèo khổ ở châu Phi thuộc vùng Nam sa mạc Sahara. Tuy nhiên, những người ủng hộ thì lại khẳng định, những thành tựu khoa học vũ trụ, mà cụ thể là việc phóng vệ tinh thám hiểm mặt trăng đóng vai trò then chốt trong việc phát triển đất nước trong lĩnh vực công nghệ thông tin.
Bước tiếp theo của Ấn Độ là họ sẽ phóng tàu vũ trụ không người lái Chandrayaan-2 vào năm 2011. Đối với Ấn Độ, đây là giai đoạn vô cùng quan trọng, là cơ hội để Ấn Độ tăng tốc để vượt qua Trung Quốc. Cơ quan nghiên cứu vũ trụ Ấn Độ (được thành lập từ năm 1969) đặt ra nhiệm vụ sẽ đưa người Ấn Độ đầu tiên lên vũ trụ vào năm 2014 và đưa người lên thám hiểm mặt trăng vào năm 2020.
Cuộc chạy đến vũ trụ
Trong khi Ấn Độ khởi động năm 2010 với một số kế hoạch dành cho công nghệ vũ trụ thì Trung Quốc và Nhật Bản vẫn đang tiếp tục dành thời gian theo đuổi những dự án dài hơi của mình trong một lộ trình được hoạch định chu đáo và kỹ càng.
Trung Quốc bắt đầu xây dựng và phát triển công nghiệp vũ trụ từ những năm 1950, dù khi đó, quốc gia châu Á này gặp rất nhiều khó khăn. Phải tới những năm 1960, Trung Quốc mới đạt được tiến bộ đáng kể đầu tiên bằng việc tự mình sản xuất tên lửa nhiên liệu lỏng. Đến năm 1978, Trung Quốc tiến hành cải cách, mở cửa. Khi đó, các nhà khoa học nước này mới nhận thấy mình khá tụt hậu so với nhiều nước khác trong lĩnh vực vũ trụ, đặc biệt là Mỹ và Nga. Tuy nhiên, phải tới năm 1986, một hội nghị đặc biệt về phát triển công nghệ cao được tổ chức. Sự kiện này đánh dấu bằng việc ra đời “Kế hoạch 863”. Khoản tiền trị giá 4 tỷ NDT (gần 600 triệu USD khi đó) được thông qua để thúc đẩy công nghệ vũ trụ. Sang năm 1992, chương trình đưa người vào không gian được khởi động và được chia nhỏ làm 3 giai đoạn. Năm 2003, Trung Quốc đã đưa được tàu có người lái lên vũ trụ và năm 2007, họ đã phóng thành công vệ tinh thám hiểm mặt trăng. Năm 2008, sau 16 năm phát triển, Trung Quốc trở thành nước thứ 3 trên thế giới, sau Nga và Mỹ tiến hành đi bộ trong không gian. Thời gian thực hiện cuộc đi bộ này là 15 phút.
Cuối năm 2008, Trung Quốc đưa lên vũ trụ được 110 vệ tinh, 7 tàu vũ trụ, sản xuất được 14 thế hệ tên lửa Trường Chinh, đạt được nhiều bước đột phá trong công nghệ vệ tinh, đưa 6 nhà du hành vào không gian bằng các tàu Thần Châu. Riêng tên lửa Trường Chinh đã đưa 35 vệ tinh của 13 quốc gia và khu vực vào vũ trụ sau 29 lần phóng. Đồng thời, nó trở nên nổi tiếng trong ngành công nghiệp không gian quốc tế.
Sớm hơn Trung Quốc, tháng 10-2007, tàu thám hiểm SELENE (còn gọi là Kaguya) của Nhật đã đi vào quỹ đạo ở độ cao khoảng 100km so với bề mặt của mặt trăng và chính thức bắt đầu thu thập dữ liệu về mặt trăng. Tháng 9-2009, Nhật Bản đã phóng tàu vũ trụ đầu tiên của nước này có tên HTV vào không gian, đánh dấu một bước tiến lớn nữa của nền khoa học vũ trụ nước này sau thành công trong việc gửi tàu thăm dò đến mặt trăng. Chương trình tàu HTV của Nhật Bản trị giá 680 triệu USD và từ nay cho đến năm 2015, mỗi năm đất nước mặt trời mọc sẽ phóng một chuyến tàu vận tải đến ISS theo thỏa thuận của các thành viên cùng hợp tác xây dựng trạm. Trong các chuyến bay sau đó, JAXA sẽ nâng trọng lượng hàng hóa mà tàu mang theo từ 4,5 tấn lên 6 tấn. Đồng thời sẽ tiếp tục nghiên cứu phát triển tàu HTV thành tàu vũ trụ có người lái, phục vụ các tham vọng tự đưa người lên không gian, mà mục tiêu sắp tới là đưa người đến mặt trăng.
THIÊN NHƯ (tổng hợp)