CôngThương - KHÁI QUÁT VỀ TRUNG QUỐC:
1. Giới thiệu chung:
- Tên nước:
nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (The People's Republic of China).
- Ngày quốc khánh:
01-10-1949.
- Vị trí địa lý
: Trung Quốc nằm ở phần nửa phía bắc của Đông bán cầu, phía đông nam của đại lục Á - Âu, phía đông và giữa châu Á, phía Tây của Thái Bình Dương; có biên giới chung với Nga, Mông Cổ (phía bắc), với Kazakstan, Kirghistan, Taghikistan (phía tây), với Afghanistan, Pakistan, Ấn Độ, Nê Pan, Bu Tan (phía tây nam), với Myanma, Lào, Việt Nam (phía nam), với Triều Tiên (phía đông).
- Diện tích
: 9,6 triệu km2
- Khí hậu
: Trung Quốc thuộc khu vực gió mùa, khí hậu đa dạng từ ấm đến khô. Nhiệt độ trung bình toàn quốc tháng 1 là -4,70C, tháng 7 là 260C. Ba khu vực được coi là nóng nhất là Nam Kinh, Vũ Hán, Trùng Khánh.
- Dân số
: hơn 1,3 tỷ người (tính đến 1/2006).
- Dân Tộc
: Trung Quốc là một quốc gia có nhiều dân tộc. Dân tộc Hán là chủ yếu, ngoài ra còn có 55 dân tộc ít người (chiếm 6% dân số cả nước và phân bổ trên 50-60% diện tích toàn quốc).
- Hành chính
: 31 tỉnh, thành phố gồm 22 tỉnh, 5 khu tự trị và 4 thành phố trực thuộc trung ương. 4 cấp hành chính gồm tỉnh, địa khu, huyện, xã. Thủ đô: Bắc Kinh.
- Tôn giáo:
Có 4 tôn giáo chính là Phật giáo, Đạo giáo, Đạo Hồi, Thiên chúa giáo.
- Ngôn ngữ
: Tiếng Hán là tiếng phổ thông, lấy âm Bắc Kinh làm tiêu chuẩn.
2. Khái quát lịch sử:
Người vượn Bắc Kinh xuất hiện cách đây 500.000 năm, là người nguyên thủy sống trên đất Trung Quốc. Trung Quốc đã trải qua các chế độ xã hội:
-
Công Xã nguyên thủy: người động Kim Sơn cách đây 10.000 năm, thời kỳ mẫu hệ.
-
Chế độ nô lệ: thời kỳ nhà Hạ (thế kỷ 21 – 16 trước công nguyên) và nhà Thương (thế kỷ 16 – 11 trước công nguyên)
-
Chế độ phong kiến: bắt đầu từ Tây Chu (thế kỷ 11 trước công nguyên) đến chiến tranh thuốc phiện (1840):
Nhà Chu (thế kỷ 11 – 221 trước công nguyên) là thời phong kiến cát cứ;
Nhà Tần (221 – 106 trước công nguyên) lần đầu tiên thống nhất Trung Quốc, thiết lập nước phong kiến tập quyền trung ương;
Nhà Tùy (581 – 618) thống nhất Trung Quốc lần thứ 2;
Nhà Đường (618-907)
Nhà Liêu (916-1125)
Nhà Minh (1368 – 1644) xuất hiện công trường thủ công, là mầm mống tư bản chủ nghĩa;
Nhà Thanh (1644 - 1911).
-
Chế độ nửa phong kiến, nửa thuộc địa: bắt đầu từ sau chiến tranh thuốc phiện 1840 cho đến trước khi thành lập nước CHND Trung Hoa năm 1949.
-
Trung Hoa dân quốc (1912 – 1949)
-
Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa (1-10-1949).
3. Thể chế nhà nước, Đảng phái chính trị và Lãnh đạo chủ chốt:
- Thể chế nhà nước
: Theo hiến pháp Trung Quốc, nước CHND Trung Hoa là một nước Xã hội chủ nghĩa của nền chuyên chính nhân dân, do giai cấp công nhân lãnh đạo, lấy liên minh công nông làm nền tảng. Chế độ Xã hội chủ nghĩa là chế độ cơ bản của Trung Quốc. Chuyên chính nhân dân là thể chế của nhà nước. Cơ cấu Nhà nước bao gồm Đại hội Đại biểu nhân dân toàn quốc (Quốc Hội), Chủ tịch nước, Quốc Vụ viện, Hội nghị Chính trị Hiệp thương toàn quốc (gọi tắt là Chính Hiệp, tương tự Mặt trận tổ quốc của ta), Ủy ban Quân sự Trung ương, Đại hội Đại biểu Nhân dân và Chính phủ các cấp ở địa phương, Tòa án Nhân dân và Viện Kiểm sát Nhân dân.
- Đảng cầm quyền: Đảng Cộng sản Trung Quốc thành lập ngày 1-7-1921, hiện có 70,8 triệu Đảng viên. Bộ Chính trị có 25 người, trong đó có 9 Ủy viên thường vụ Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng có 8 người.
Ngoài Đảng Cộng sản Trung Quốc, còn có 8 Đảng phái khác, đều thừa nhận sự lãnh đạo của ĐCS trong khuôn khổ "hợp tác đa Đảng dưới sự lãnh đạo của ĐCS", bao gồm: Hội Cách mạng dân chủ, Liên minh dân chủ, Hội Kiến quốc dân chủ, Hội Xúc tiến dân chủ, Đảng Dân chủ nông công, Đảng Chí công, Cửu tam học xã và Đồng minh tự trị dân chủ Đài Loan.
- Lãnh đạo chủ chốt
:
Tổng Bí thư Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Trung Quốc, Chủ tịch nước CHND Trung Hoa, Chủ tịch Ủy ban Quân sự Trung ương ĐCS Trung Quốc, Chủ tịch Ủy ban Quân sự Trung ương Nhà nước Trung Quốc: Hồ Cẩm Đào
Thủ tướng Quốc Vụ viện CHND Trung Hoa: Ôn Gia Bảo
Chủ tịch Quốc Hội (Ủy viên trưởng Ủy ban thường vụ Đại hội Đại biểu Nhân dân toàn quốc nước CHND Trung Hoa): Ngô Bang Quốc
Chủ tịch Hội nghị Hiệp thương chính trị nhân dân toàn quốc nước CHND Trung Hoa: Giả Khánh Lâm
Bộ trưởng Ngoại giao nước CHND Trung Hoa: Dương Khiết Trì (từ 5/2007)
4. Mục tiêu chiến lược và các bước phát triển của Trung Quốc đầu thế kỷ 21:
Đại hội 15 ĐCS TQ (9/1997) đã đưa ra cương lĩnh xây dựng phát triển kinh tế Trung Quốc đầu thế kỷ 21 với 3 bước lớn:
Bước 1
: Từ năm 2000-2010, tăng gấp đôi GDP so với năm 2000, nâng cao đời sống nhân dân từ mức khá giả lên giàu có;
Bước 2
: Từ năm 2010-2020, kinh tế quốc dân phát triển hơn và các chế độ hoàn thiện hơn;
Bước 3
: Từ năm 2020 - 2049, cơ bản hoàn thành hiện đại hóa, TQ trở thành nước XHCN giầu mạnh, dân chủ, văn minh.
Các bước phát triển kinh tế trên của TQ đã được cụ thể hóa thành các mục tiêu sau:
- Mục tiêu phấn đấu tới năm 2010, tổng giá trị sản xuất trong nước (GDP) tăng gấp 2 lần năm 2000, dân số khống chế trong giới hạn 1,4 tỷ người, đời sống nhân dân từ khá giả lên giầu có, hình thành thể chế kinh tế thị trường XHCN tương đối hoàn thiện, tố chất tổng hợp kinh tế quóc dân nâng cao hơn nhiều so với năm 2000, sức cạnh tranh quốc tế tăng mạnh, sức sản xuất xã hội, sức mạnh tổng hợp quốc gia, mức sống của nhân dân nâng cao lên một bậc; duy trì tăng trưởng GDP bình quân 8%/ năm.
- Từ năm 2010 - 2020, duy trì tăng trưởng GDP bình quân 7%/năm, cao hơn tỷ lệ tăng trưởng bình quân cộng lại của các nước thu nhập thấp, các nước thu nhập trung bình và các nước thu nhập cao.
- Từ 2020 - 2030, tăng trưởng GDP bình quân 6,3%, tổng lượng kinh tế đạt tới vị trí số 1 thế giới.
- Từ năm 2030 - 2040, tăng trưởng GDP bình quân 5,4%/năm.
- Từ năm 2040 - 2050, GDP tăng trưởng bình quân 4,6%/năm. Cùng với kinh tế phát triển, bình quân GDP và các chỉ tiêu kinh tế khác cũng như trình độ phát triển xã hội đạt tới trình độ của các nước phát triển cuối thế kỷ 20.
- Từ năm 2050 đến cuối thế kỷ 21, bình quân GDP và các chỉ tiêu kinh tế khác cũng như trình độ phát triển xã hội đều đạt tới trình độ của các nước phát triển cùng thời gian đó. Nói cách khác, TQ cần 100 năm để đạt tới vị trí đứng đầu thế giới về kinh tế.
Đại hội 16 ĐCS TQ (11/2002)
: Chủ đề nổi bật của Đại hội là giương cao ngọn cờ lý luận Đặng Tiểu Bình, Quán triệt toàn diện tư tưởng quan trọng "Ba đại diện", tiếp bước đi lên, tiến cùng thời đại, xây dựng toàn diện xã hội khá giả, đẩy nhanh hiện đại hóa XHCN, phấn đấu mở ra cục diên mới của sự nghiệp XHCN mang màu sắc TQ. Nêu rõ mục tiêu phấn đấu đến năm 2020 là xây dựng toàn diện xã hội khá giả với các tiêu chí: GDP năm 2020 tăng 4 lần năm 2000 (theo các nhà kinh tế TQ, với mục tiêu này GDP sẽ đạt 35 nghìn tỷ NDT, tức khoảng 4200 tỷ USD theo giá không đổi năm 2000, bình quân đầu người hơn 3000 USD); dân chủ và pháp chế XHCN hoàn thiện hơn; tố chất đạo đức, tư tưởng, khoa học, văn hóa, sức khỏe của người dân được nâng cao rõ rệt; năng lực phát triển bền vững được tăng cường...
Tại Hội nghị Trung ương 5 khóa 16 (10/2005) và Kỳ họp thứ 4 Quốc hội khóa 10 (3/2006), Ban lãnh đạo mới của Trung Quốc do Tổng Bí thư, Chủ tịch Hồ Cẩm Đào đứng đầu đã xây dựng và thông qua "Quy hoạch 5 phát triển kinh tế xã hội năm lần thứ 11" (2006 – 2010), thực hiện toàn diện quan điểm phát triển khoa học, xây dựng xã hội hài hòa, duy trì tốc độ phát triển kinh tế tương đối nhanh và bền vững, thực hiện chuyển đổi phương thức tăng trưởng kinh tế, thúc đẩy phát triển hài hòa giữa các vùng miền và lĩnh vực, tiếp tục đi sâu cải cách mở cửa. Trung Quốc nêu mục tiêu của giai đoạn 2006 -2010 là duy trì tốc độ tăng GDP khoảng 7,5%/năm; giảm tiêu hao năng lượng/GDP khoảng 20%; giảm chất thải ô nhiễm 10%; đề ra 6 nhiệm vụ chủ yếu: (1) Xây dựng nông thôn mới, coi việc giải quyết vấn đề "Tam nông" là nhiệm vụ hàng đầu trong các nhiệm vụ chiến lược; (2) Đẩy nhanh điều chỉnh cơ cấu kinh tế và chuyển đổi phương thức tăng trưởng, đi con đường công nghiệp hóa kiểu mới. (3) Thúc đẩy phát triển cân đối giữa các vùng miền. (4) Đẩy mạnh thực hiện chiến lược khoa học kỹ thuật chấn hưng đất nước; (5) Đi sâu cải cách và đẩy mạnh mở cửa, thúc đẩy phát triển toàn diện, hài hòa, bền vững; (6) Nỗ lực xây dựng xã hội hài hòa, dân chủ pháp trị.
Hội nghị Trung ương 6 khóa 16
( từ 8-11/10/2006) chuyên bàn và đưa ra Quyết định về "xây dựng xã hội hài hòa XHCN". Hội nghị nêu 9 mục tiêu, nhiệm vụ từ nay đến năm 2020: Hoàn thiện pháp chế dân chủ XHCN; Giải quyết chênh lệnh phát triển vùng miền, hình thành cơ chế phân phối thu nhập hợp lý; Tạo việc làm, xây dựng hệ thống bảo hiểm xã hội cả ở thành thị và nông thôn; Hoàn chỉnh hệ thống dịch vụ công; Nâng cao tố chất về tư tưởng, đạo đức, văn hóa, khoa học và sức khỏe toàn dân; Tăng cường năng lực sáng tạo xã hội; Hoàn thiện hệ thống quản lý xã hội; Nâng cao hiệu quả sử dụng tài nguyên, bảo vệ môi trường; Thực hiện mục tiêu xây dựng xã hội khá giả toàn diện ở mức cao hơn, hình thành cục diện toàn dân làm hết năng lực- hưởng theo năng lực và chung sống hài hòa.
Đại hội 17 ĐCS Trung Quốc dự kiến sẽ được tổ chức vào cuối năm 2007.
5. Một số thành tựu chính
:
Gần 30 năm thực hiện cải cách mở cửa, Trung Quốc đã thu được những thành tựu to lớn, đưa Trung Quốc trở thành nền kinh tế lớn thứ 4 trên thế giới. Từ năm 1979-2006, GDP bình quân hàng năm của Trung Quốc tăng trên 9,6 %, đạt mức cao nhất thế giới. Tính riêng năm 2006, GDP đạt 20.940 tỷ NDT (khoảng 2.700 tỷ USD), tăng 10,7%; tổng kim ngạch thương mại đạt 1.760 tỷ USD, tăng 23,8% (là năm thứ 5 liên tiếp tăng trên 20%); FDI thực tế đạt 69,5 tỷ USD; tạo thêm 11,84 triệu việc làm mới; thu nhập bình quân cư dân ở thành thị đạt 11.759 NDT (khoảng 1.500 USD), tăng 10,4%; thu nhập bình quân ở nông thôn đạt 3587 NDT (khoảng 460 USD), tăng 7,4%; sản lượng lương thực đạt 497,4 triệu tấn (năm thứ 3 liên tiếp tăng); dự trữ ngoại tệ hơn 1200 tỷ USD (tính đến hết tháng 4/2007).
6. Về đối ngoại
, Trung Quốc khẳng định sẽ tiếp tục đi theo con đường phát triển hòa bình, kiên trì mở cửa đối ngoại, sẵn sàng hợp tác cùng có lợi với các nước trên thế giới, trong đó Trung Quốc hết sức coi trọng phát triển quan hệ hợp tác hữu nghị với các nước láng giềng theo phương châm "mục lân, an lân, phú lân" (thân thiện với láng giềng, ổn định với láng giềng và cùng làm giàu với láng giềng).
TÌNH HÌNH QUAN HỆ VIỆT-TRUNG
1. Kể từ khi bình thường hóa quan hệ năm 1991 đến nay, quan hệ hữu nghị và hợp tác Việt - Trung phát triển nhanh chóng và sâu rộng trên tất cả các lĩnh vực, đem lại nhiều lợi ích thiết thực cho cả hai bên. Đến nay, hai nước đã ký nhiều hiệp định cấp Chính phủ và các văn kiện hợp tác khác, đặt cơ sở pháp lý cho quan hệ hợp tác lâu dài giữa hai nước. Hai bên đã khai thông đường hàng không, đường biển, đường bộ, đường sắt, tạo điều kiện thuận lợi cho giao lưu hàng hóa và hành khách giữa hai nước. Trao đổi đoàn ở trung ương và địa phương ngày càng tăng, hàng năm hai bên trao đổi trên 100 đoàn ở cấp lãnh đạo các bộ, ngành và địa phương, đoàn thể quần chúng, góp phần tăng cường hiểu biết và mở rộng hợp tác giữa hai nước.
- Các cuộc gặp gỡ giữa Lãnh đạo cấp cao hai nước được duy trì đều đặn hàng năm. Trong chuyến thăm Trung Quốc của Tổng Bí thư Lê Khả Phiêu tháng 2/1999, lãnh đạo cấp cao hai nước đã xác định phương châm 16 chữ thúc đẩy quan hệ hai nước trong thế kỷ 21 là "láng giềng hữu nghị, hợp tác toàn diện, ổn định lâu dài, hướng tới tương lai". Dịp Chủ tịch nước Trần Đức Lương thăm Trung Quốc tháng 12/2000, hai bên đã ký Tuyên bố chung về hợp tác toàn diện trong thế kỷ mới, cụ thể hóa phương châm 16 chữ đó thành những biện pháp cụ thể phát triển quan hệ hai nước trên tất cả các lĩnh vực. Hai bên cũng đã thỏa thuận đưa hai nước trở thành “láng giềng tốt, bạn bè tốt, đồng chí tốt, đối tác tốt”.
Trong năm 2007, đã diễn ra các chuyến thăm cấp cao của Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết (5/2007); Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Phú Trọng (4/2007); bên cạnh đó, dịp dự Hội nghị cấp cao ASEAN 13 tại Singapore (11/2007), Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã có cuộc gặp với Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo. Sau Đại hội ĐCS lần thứ 17, Bạn đã cử Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Ban Bí thư, Trưởng Ban tuyên truyền TW Lưu Vân Sơn sang ta thông báo về kết quả Đại hội.
Từ 30/5-2/6/2008, Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh thăm hữu nghị chính thức Trung Quốc. Hai bên ra Tuyên bố chung, nhất trí phát triển quan hệ đối tác hợp tác chiến lược toàn diện Việt Nam-Trung Quốc theo phương châm 16 chữ và tinh thần 4 tốt. Hai bên cũng đang triển khai việc thiết lập đường dây nóng giữa Lãnh đạo cấp cao hai nước.
Trong các chuyến thăm, Lãnh đạo cấp cao hai nước nhấn mạnh tình hữu nghị Việt-Trung là tài sản quý báu của hai nước và nhân dân hai nước, cần được hết sức giữ gìn và không ngừng vun đắp; khẳng định sẽ làm hết sức mình để đưa quan hệ đó ngày càng sâu sắc hơn, tin cậy hơn, cùng ủng hộ lẫn nhau trong sự nghiệp đổi mới, cải cách mở cửa và xây dựng chủ nghĩa xã hội ở mỗi nước, vì hòa bình, ổn định, hợp tác và phát triển ở khu vực và trên thế giới.
- Hai bên đã thành lập Ủy ban chỉ đạo hợp tác song phương Việt Nam - Trung Quốc (11/2006) và đã tiến hành 2 phiên họp (phiên thứ 2 họp tại Bắc Kinh tháng 1/2008).
- Hai bên đã tổ chức một số cuộc hội thảo về lý luận, kinh nghiệm xây dựng Đảng, quản lý nhà nước, về đổi mới, cải cách mở cửa, hội nhập quốc tế. Việc giao lưu giữa thế hệ trẻ 2 nước được duy trì ( tháng 10/2007, đã diễn ra cuộc “Gặp gỡ hữu nghị thanh niên Việt Nam – Trung Quốc” lần thứ 8 với chủ đề “Giới thiệu tiềm năng du lịch Việt Nam”).
- Quan hệ giữa các ngành như ngoại giao an ninh, quốc phòng được tiếp tục tăng cường với việc ký các thỏa thuận hợp tác giữa hai Bộ Ngoại giao (12/2002), hai Bộ Công an (9/2003), hai Bộ Quốc phòng (10/2003); hai ngành An ninh (3/2005) và Thỏa thuận hợp tác biên phòng và Thỏa thuận về hợp tác giữa hai Tổng Cục chính trị Bộ Quốc phòng hai nước (8/2007).
- Các địa phương của hai bên cũng tăng cường quan hệ hợp tác trực tiếp với nhiều hình thức đa dạng và thiết thực (trao đổi đoàn khảo sát, học hỏi kinh nghiệm lẫn nhau, ký kết các văn bản hợp tác, cùng nhau tổ chức hội thảo, triển lãm...). Liên tiếp trong 5 năm kể từ năm 2004 đến nay, hàng năm lãnh đạo Quảng Tây đều sang thăm Việt Nam theo lời mời của Bộ Ngoại giao (Bí thư Khu ủy Quảng Tây Quách Thanh Côn thăm Việt Nam từ 2-5/4/2008); tỉnh Trưởng Vân Nam Tần Quang Vinh cũng đã thăm Việt Nam (4/2007). Lãnh đạo Việt Nam cũng nhiều lần thăm Vân Nam và Quảng Tây. Dịp thăm chính thức Trung Quốc, Chủ tịch nước Nguyễn Minh Triết thăm tỉnh Vân Nam (5/2007); dịp Hội chợ thương mại và Hội nghị thượng đỉnh về thương mại đầu tư ASEAN - Trung Quốc lần thứ 4 tại Nam Ninh (CAEXPO), Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng thăm chính thức Quảng Tây và Vân Nam (10/2007)
Nhằm thúc đẩy hơn nữa giao lưu mọi mặt giữa các địa phương biên giới hai nước, tháng 6/2007, hai bên đã ký Thỏa thuận thành lập Ủy ban công tác liên hợp giữa Cao Bằng, Lạng Sơn, Quảng Ninh với Quảng Tây và Điện Biên, Hà Giang, Lào Cai, Lai Châu với Vân Nam (từ 15-17/5/2008, tại Quảng Ninh đã diễn ra phiên họp đầu tiên của Ủy ban công tác liên hợp với Quảng Tây).
- Ngoài các Tổng lãnh sự quán tại Quảng Châu, Nam Ninh, Côn Minh, Hongkong, tháng 11/2007, Việt Nam đã mở thêm Văn phòng Lãnh sự tại Thượng Hải trực thuộc Đại sứ quán ta tại Bắc Kinh.
- Hai bên đồng thời tích cực trao đổi, phối hợp lập trường trên nhiều vấn đề quốc tế và các vấn đề khác của HĐBA/LHQ nhất là sau khi Việt Nam trở thành thành viên không thường trực HĐBA/LHQ.
2- Quan hệ kinh tế thương mại:
a.Về thương mại:
- Hiện nay Trung Quốc đã trở thành bạn hàng thương mại hàng đầu của Việt Nam. Năm 2007, tổng kim ngạch thương mại hai chiều là 15,85 tỷ USD, tăng 52,18% so với cùng kỳ năm 2006; ta xuất 3,35 tỷ USD, tăng 10,78%, nhập khẩu 12,5 tỷ USD, tăng 69,15% (nhập siêu 9,15 tỷ USD). Tính đến hết tháng 4/2008, kim ngạch song phương đạt 5,15 tỷ USD, tăng 72% so với cùng kỳ năm ngoái nhưng nhập siêu tiếp tục tăng, đạt 3,3 tỷ USD, tăng 112%.
Trong các cuộc gặp gỡ, Lãnh đạo cấp cao hai nước đã trao đổi các biện pháp nhằm thực hiện mục tiêu nâng kim ngạch song phương đi đôi với cải thiện cán cân thương mại. Để thúc đẩy hơn nữa xuất nhập khẩu, dịp Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh thăm Trung Quốc (30/5-2/6/2008), hai bên đã ký kết Hiệp định kiểm dịch động vật và Hiệp định kiểm dịch thực vật.
- Tháng 11/2006, hai bên đã ký Hiệp định về phát triển sâu rộng quan hệ kinh tế thương mại. Để triển khai thực hiện Hiệp định này, hiện nay hai bên đang tích cực hoàn tất Dự thảo "Quy hoạch phát triển 5 năm hợp tác kinh tế thương mại Việt - Trung" giai đoạn 2009 - 2013, xác định các lĩnh vực và dự án hợp tác trọng điểm, nâng cao hơn nữa quy mô và mức độ hợp tác kinh tế thương mại, đồng thời đưa ra một số giải pháp cụ thể, trong đó có các biện pháp hướng tới giải quyết vấn đề nhập siêu.
b. Về hợp tác đầu tư:
- Đến nay, Trung Quốc có 571 dự án đầu tư tại Việt Nam với tổng vốn đăng ký đạt hơn 1,87 tỷ USD, đứng thứ 11/82 quốc gia và vùng lãnh thổ đầu tư trực tiếp vào Việt Nam.
- Trong những năm qua, Trung Quốc đã không ngừng tăng qui mô tín dụng ưu đãi dành cho Việt Nam. Hiện hai bên đang triển khai một số dự án hợp tác kinh tế lớn như Dự án xây dựng nhà máy khai thác và tuyển luyện đồng tại Sin Quyền; cải tạo nâng tạo nâng cấp nhà máy gang thép Thái Nguyên; phân đạm Hà Bắc; Nhà máy nhiệt điện Quảng Ninh I, II; Nhà máy nhiệt điện Hải Phòng I, II; Dự án thông tin tín hiệu đường sắt các tuyến Hà Nội - Đồng Đăng, Hà Nội - Thái Nguyên, Hà Nội - Lào Cai và khu đầu mối Hà Nội; Dự án hiện đại hóa hệ thống thông tin tín hiệu đường sắt đoạn Vinh - thành phố Hồ Chí Minh, Nhà máy sản xuất phân đạm từ than cám Ninh Bình v.v…; Dự án viễn thông nông thôn; Dự án đường sắt đô thị tuyến Hà Nội - Hà Đông v.v… Dịp Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh thăm Trung Quốc (5/2008), hai bên nhất trí tăng cường thúc đẩy các doanh nghiệp của hai nước hợp tác lâu dài cùng có lợi trong các lĩnh vực cơ sở hạ tầng, công nghiệp chế tạo, phát triển nguồn nhân lực, năng lượng, chế biến khoáng sản và các lĩnh vực quan trọng khác, tăng cường hợp tác trong các sự án trong khuôn khổ "Hai hành lang, một vành đai kinh tế" và các dự án lớn khác.
Ngoài tín dụng ưu đãi, Chính phủ Trung Quốc còn hỗ trợ Việt Nam nhiều khoản viện trợ không hoàn lại dùng vào việc tổ chức các đoàn tham quan, khảo sát kinh nghiệm phát triển kinh tế xã hội ở Trung Quốc; trao đổi thanh thiếu niên; đầu tư trang thiết bị cho một số bệnh viện tại Việt Nam; xây dựng khu nhà ở Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh và Cung Hữu nghị Việt – Trung.
- Trung Quốc là thị trường nguồn du lịch lớn nhất của Việt Nam. Năm 2007 có khoảng 600 ngàn người Trung Quốc đi du lịch Việt Nam.
3- Về biên giới lãnh thổ:
- Sau khi bình thường hóa quan hệ, năm 1993, hai bên đã ký Hiệp định Thỏa thuận về các nguyên tắc cơ bản giải quyết các vấn đề biên giới lãnh thổ và các cuộc đàm phán về 3 vấn đề: biên giới trên đất liền, phân định Vịnh Bắc Bộ và vấn đề trên biển (Biển Đông) được chính thức bắt đầu.
Đến nay, hai bên đã ký được các Hiệp định quan trọng như: Hiệp định về biên giới trên đất liền (1999); Hiệp định phân định Vịnh Bắc Bộ (2000); Hiệp định hợp tác nghề cá Vịnh Bắc Bộ (2000); Nghị định thư hợp tác nghề cá Vịnh Bắc Bộ .
- Về biên giới trên bộ: đến nay, hai bên Việt Nam - Trung Quốc đã cơ bản hoàn thành công tác phân giới cắm mốc trên đất liền. Hiện hai bên đang cơ bản, tích cực giải quyết các vấn đề còn lại nhằm bảo đảm đúng thời hạn mục tiêu hoàn toàn công tác phân giới cắm mốc và ký Hiệp ước quản lý biên giới mới vào cuối năm 2008. (Lào Cai là tỉnh đầu tiên trong 7 tỉnh biên giới phía Bắc của Việt Nam đã hoàn thành công tác phân giới cắm mốc trên thực địa với Trung Quốc tháng 2/2007).
- Về Vịnh Bắc Bộ: hai Hiệp định về Vịnh Bắc Bộ (Hiệp định phân định vịnh Bắc Bộ và Hiệp định hợp tác nghề cá Vịnh Bắc Bộ) được triển khai tương đối thuận lợi, công tác quản lý đánh bắt và bảo vệ nguồn lợi dần đi vào nề nếp, hạn chế tối đa các xung đột có thể nảy sinh. Hai bên thỏa thuận tiếp tục thực hiện tốt hai Hiệp định này, cũng như thực hiện tốt công tác kiểm tra liên hợp, điều tra liên hợp nguồn thủy sản trong Vùng đánh chung và tuần tra chung giữa hải quân hai nước ở Vịnh Bắc Bộ, đẩy nhanh việc thực hiện "Thỏa thuận khung về hợp tác dầu khí trong vùng thỏa thuận tại Vịnh Bắc Bộ", thúc đẩy đàm phán về phân định khu vực ngoài cửa Vịnh (hai bên đã tiến hành được 4 vòng đàm phán về phân định khu vực ngoài cửa Vịnh).
- Về vấn đề biển Đông: hai bên nhất trí kiên trì thông qua đàm phán hòa bình để giải quyết, trong khi đó hai bên có thể tiến hành hợp tác trong các lĩnh vực ít nhạy cảm như nghiên cứu khoa học, môi trường biển, tìm kiếm cứu nạn, khí tượng thủy văn... Giữa ASEAN và Trung Quốc cũng đã ký Tuyên bố về cách ứng xử ở biển Đông (DOC), hiện đang trong quá trình trao đổi để đi vào triển khai, tiến tới xây dựng Bộ quy tắc ứng xử ở biển Đông (COC).
Ngày 14/3/2005, ba công ty dầu khí 3 nước Việt Nam (PetroVietnam), Trung Quốc (CNOOC), Phi-lip-pin (PNOC) đã ký được Thỏa thuận về khảo sát địa chấn chung trong một số khu vực trên biển Đông, hiện đã kết thúc giai đoạn I của công tác khảo sát và đang tiến hành giai đoạn II. Về hợp tác nghiên cứu khoa học ở biển Đông (JOMSRE), qua hai cuộc họp cấp chuyên viên tháng 1 và 3/2008, các bên đã đạt được một số nhận thức chung về nguyên tắc, nội dung và một số vấn đề về kỹ thuật liên quan tới khảo sát.
4. Trong những năm qua, quan hệ trao đổi, hợp tác giữa ta với Trung Quốc trong các lĩnh vực giáo dục đào tạo, văn hóa - thể thao được đẩy mạnh. Hàng năm, Trung Quốc tiếp nhận một số lượng đáng kể các học sinh, thực tập sinh và các đoàn thể thao của ta sang nghiên cứu, học tập và tập huấn tại Trung Quốc, đồng thời cử nhiều cán bộ, huấn luyện viên sang giúp ta trong công tác huấn luyện các môn thể thao. Hai bên trao đổi các đoàn biểu diễn nghệ thuật, tổ chức nhiều cuộc giao lưu văn hóa, thể thao, góp phần tăng cường tình hữu nghị giữa nhân dân hai nước.
INDUSTRY&TRADE