Chúng tôi tự hào đã vượt Trường Sơn cách đây 45 năm

Xem tin gốc 

Nhân dân - 25 tháng trước 21 lượt xem

ND- Đang làm phóng viên Báo Nhân Dân thường trú tại vùng mỏ Quảng Ninh, tôi được gọi về Hà Nội. Anh Thép Mới yêu cầu tôi đi viết về đường sắt phía nam đang được xây dựng cấp tốc. Đó là đoạn từ Thanh Hóa đi Nghệ An đã bỏ phế từ đầu kháng chiến chống thực dân Pháp, nay cần sửa chữa phục hồi để chuẩn bị chuyển hàng chi viện cho chiến trường miền nam.

Mệnh lệnh đó đưa ra hợp với lòng tôi. Là dân miền nam, sống trên đất bắc, nhưng trái tim tôi luôn hướng về miền nam - nơi có những người thân đang quằn quại trong đau thương. Chưa về được miền nam thì phải góp sức "Vì miền nam ruột thịt". Từ Hà Nội, tôi đi xe lửa vào Thanh Hóa. Từ đây phải đi xe đạp men theo đường sắt đang đắp, có nơi đã đổ đá dăm, có nơi đã đặt tà-vẹt... Đường đi gần 200 cây số qua núi rừng, qua sông chưa có cầu và những cánh đồng vắng.

Về đến Hà Nội, tôi đã viết ngay một ghi nhanh đăng trang nhất Báo Nhân Dân đính kèm ảnh đầu máy có hình ảnh Bác Hồ, với đầu đề: "Mỗi ngày xe lửa tiến về Nam một cây số". Ghi nhanh và tấm ảnh đó làm náo nức lòng người đang hướng về nam. Sau đó tôi đã viết phóng sự về những ngày lao động "Vì miền nam ruột thịt" của nam nữ thanh niên trên tuyến đường sắt bắc nam.

Sau đợt công tác này, lòng tôi càng xốn xang về một miền nam đang chiến đấu ở phía trước đoàn tàu không xa lắm. Ở đó có bà con, có quê hương đang đợi chờ. Đầu năm 1963 tôi từ chối một dịp đi học tập tại Liên Xô để đến Ban Thống nhất Trung ương nộp đơn xin về nam. Đề nghị của tôi được chấp thuận. Nhưng khi anh Hoàng Tùng từ Liên Xô về lại không cho phép tôi đi. Anh nói: "Miền Nam chưa có đề nghị cử phóng viên ra mặt trận, cơ quan đã đào tạo một phóng viên như vậy không thể điều đi làm cán bộ Đoàn". Tôi nói với tư cách một đứa em, là một cán bộ trẻ được các anh yêu quý theo giọng "đặc sệt" Pa-ven Ca-rơ-sa-ghin:

- Đảng đã xếp em vào đội ngũ những thanh thép. Em muốn kiểm tra lại mình. Nếu qua lửa đạn của miền nam, em là "Thép đã tôi" thì sẽ xứng đáng với sự tín nhiệm của các anh. Còn nếu là "thép xấu" em sẽ tan biến trong lửa đạn, không làm xấu Đảng.

Anh Hoàng Tùng, Tổng Biên tập hứa lúc nào có yêu cầu cử phóng viên sẽ cho đi. Mãi đến đầu năm 1964 tôi mới có lệnh chuẩn bị lên đường về nam. Báo Nhân Dân đã chấp thuận cho tôi vào chiến trường làm báo theo yêu cầu của anh Vũ Quang, Bí thư thứ nhất Trung ương Đoàn.

Tôi về Trung ương Đoàn, tham gia Ban miền Nam, nhưng chủ yếu là chuẩn bị cho chuyến về nam. Các anh Vũ Quang và Ban biên tập báo Tiền Phong đã làm việc, chuẩn bị mọi điều kiện cho tôi khi trở về nam có thể nhanh chóng bắt tay xây dựng tờ báo Đoàn. Sau đó, tôi về trường đào tạo cán bộ cho miền nam để rèn luyện, học tập. Trường có hơn hai trăm cán bộ, có nhạc sĩ, nhà văn, nhà thơ, nhà giáo, có cán bộ công đoàn, cán bộ nông nghiệp, cán bộ y tế... như Nguyễn Khoa Điềm, Phan Huỳnh Điểu, Lê Anh Xuân, Lê Thị Bạch Cát. Chỉ có tôi là nhà báo. Anh Đình Quang, Giám đốc Nhà hát kịch Việt Nam, đã dẫn đoàn kịch đến trường diễn vở "Ni-la cô bé đánh trống trận" và anh Bảo Định Giang cũng đã dẫn đoàn ca nhạc biểu diễn chia tay. Anh em đề nghị xin được gặp Bác Hồ trước ngày về nam. Rất tiếc Bác đi công tác nước ngoài, vào những ngày cuối cùng chỉ có anh Tố Hữu, anh Ba Duẩn cùng chị Ba - cũng là một nhà báo - đến thăm và tiễn đoàn.

Trước ngày lên đường, tôi trở về Báo Nhân Dân chào Ban Biên tập và bạn bè. Chỉ có ba bộ phận được tiễn tôi - vì phải giữ bí mật. Đó là Đoàn Thanh niên, cơ quan nơi tôi đang làm Bí thư, Ban Công thương - nơi tôi đang công tác. Và Ban Biên tập. Buổi tiễn hôm ấy có các anh Hoàng Tùng, Nguyễn Thành Lê, Thép Mới, Quang Đạm, Hồng Hà, Hà Đăng... Các anh dặn tôi phải sống, viết và chiến đấu thật tốt, không làm hổ thẹn danh dự của người phóng viên Báo Nhân Dân.

Chiều 20-12-1964, chúng tôi làm lễ gia nhập Mặt trận - với ký hiệu Đoàn K33 - chính thức đứng vào đội ngũ của những người miền nam trực tiếp chiến đấu chống Mỹ, cứu nước. Hôm ấy, mọi người đều mặc quần áo Quân giải phóng, chào cờ Mặt trận, hát bài "Giải phóng miền Nam" trong nước mắt.

Chúng tôi đi xe lửa từ trường ở Phú Thọ về Hà Nội. Buổi sáng nằm trong toa xe bịt kín, qua những khe hở chúng tôi nhìn Hà Nội lần cuối. Có người nhận ra người thân đang đi trên ga, không hề biết những toa xe bịt kín là gì. Xe lửa chở chúng tôi qua Thanh Hóa về Nghệ An và từ đó đi xe ô-tô về Đồng Hới (Quảng Bình). Đến đây mọi người vẫn giữ được khí thế hừng hực từ lễ xuất quân. Ngày đi bộ đầu tiên đúng vào ngày mưa tầm tã của Trường Sơn. Do chưa quen che mưa, đường lại rất trơn hay bị té nên hầu hết đồ đạc ướt mèm. Chân tay rã rời, ba-lô trĩu nặng. Đến nơi nghỉ ngơi thì trời đã tối, số đông không biết nhóm lửa, nấu ăn. Tất cả những khó khăn, vất vả đổ lên ngày đầu. Đêm đó tôi thấy nhiều anh chị lớn tuổi nằm trên võng nhìn trời mênh mông... Ngày đầu tiên đã làm nản lòng nhiều người. Chúng tôi bỏ bớt đồ đạc, mang đỡ đồ cho người yếu và động viên nhau tiếp bước. Ít ngày sau cũng có người lùi lại, song anh em chúng tôi đều đi tới bằng đôi chân và ý chí kiên cường để nhanh chóng trở về quê hương, về miền nam.

Hơn 200 thanh niên Đoàn K33 đã sống và chiến đấu trên các mặt trận từ Trị Thiên đến mũi Cà Mau. Đã có phân nửa anh em trong Đoàn hy sinh hoặc tuổi cao đã đi xa. Chúng tôi tự hào có Lê Anh Xuân, Lê Thị Bạch Cát đã có tên đường ở thành phố Hồ Chí Minh; tự hào có Nguyễn Khoa Điềm nhà thơ, Phan Huỳnh Điểu nhạc sĩ... và một số đoàn viên tham gia lãnh đạo các tỉnh, thành, ban, ngành trên cả nước.

Bây giờ cũng có người cho rằng, công tác tư tưởng là không thực tế, không cần thiết, họ đòi hỏi phải được gì, có gì mới hành động. Là những người vượt Trường Sơn về nam chiến đấu, chúng tôi đã được giáo dục tốt, rèn luyện tốt và chính nhờ có một tư tưởng lành mạnh, một ý chí kiên cường mới vượt qua bao gian khổ, khó khăn. Chúng tôi là những cán bộ xung phong tình nguyện về nam, đã để lại phía sau chức sắc, lương bổng, người thân và cả tương lai rực rỡ. Ở phía trước là đói khát, bom đạn, là hy sinh... Chúng tôi có được một điều duy nhất: Trở về quê hương, cùng đồng đội, đồng chí và bà con giải phóng miền nam. Nhiều bạn bè đi cùng đã ngã xuống ngay ngày đầu đến miền nam và gần nửa đoàn không được trở lại Hà Nội. Một số đồng chí hiện nay còn sống vất vả. Dù vậy, đến bây giờ chúng tôi cũng không hề ân hận rằng, đã xung phong vượt Trường Sơn về nam từ những năm Trường Sơn mới có đường mòn cách đây tròn 45 năm.

Đinh Phong

Chưa có bình luận nào

Hãy đăng ký hoặc đăng nhập để tham gia bình luận.

Về đầu trang