ĐB Mã Đình Cư cho rằng, một trong những lợi thế không thể phủ nhận là nhiều Tập đoàn, TCty Nhà nước được đặc quyền khai thác tài nguyên của đất nước nhưng lại độc quyền trong phân phối hàng hóa, dịch vụ, còn người tiêu dùng chỉ biết… mua. Theo ĐB này, các tập đoàn, TCty còn có đặc quyền to lớn về vốn, đặc quyền khai thác và kinh doanh ngành nghề có mức độ lợi nhuận rất lớn, được Nhà nước rót vốn và tạo điều kiện hỗ trợ tối đa khi vay vốn ngân hàng. Tuy nhiên, điều đáng lo ngại là số vốn thực rất ít, phần lớn là vốn vay ngân hàng trong đó để sử dụng đầu tư tràn lan vào những ngành nghề khác. Trong khi đó tỷ lệ lợi nhuận bình quân hàng năm của các đơn vị này không được công khai, minh bạch, nên ít ai biết đích xác hiệu quả thực của vốn đầu tư từ Nhà nước.
PHẢI QUY TRÁCH NHIỆM CÁ NHÂN, TẬP THỂ
Báo cáo giám sát của QH cho hay, một số đơn vị có tỉ lệ tổng nợ phải trả trên vốn chủ sở hữu rất cao (trên 10 lần) là TCty xây dựng CTGT 1 (21,6 lần), TCty Lắp máy Việt Nam (17,4 lần), TCty xây dựng CTGT 4 (14 lần), TCty Thành An (13,9 lần), Tập đoàn Công nghiệp tàu thủy Việt Nam (10,9 lần)... Trong đó, tổng nợ vay tổ chức tín dụng và phát hành trái phiếu trong nước là gần 287 ngàn tỉ đồng. Tổng nợ tổ chức tín dụng của 7 tập đoàn đặc biệt là gần 129 ngàn tỉ. Nợ quá hạn của 7 tập đoàn là gần 4,2 ngàn tỉ.
Một số TCty hoạt động trong lĩnh vực nông nghiệp như TCty Mía đường II, TCty rau quả nông sản, TCty Dâu tằm tơ Việt Nam, TCty Thủy sản Việt Nam... lại thực hiện bảo lãnh vay vốn đối với các dự án vay vốn thuộc các DN thành viên không đúng với các quy định của pháp luật, khi DN thành viên lâm vào tình trạng phá sản thì các TCty phải dùng vốn Nhà nước trả nợ thay. Có đến 25,2% số tập đoàn, TCty có mức lợi nhuận âm hoặc dưới 5% và 47,2% số đơn vị báo cáo có mức lợi nhuận dưới 10%, tức là hoạt động hiệu quả thấp. 47 tập đoàn, TCty tham gia đầu tư vào lĩnh vực bảo hiểm, chứng khoán tín dụng... với tổng số vốn gần 22 ngàn tỉ đồng nhưng lại đạt hiệu quả thấp hơn so với đầu tư vào ngành kinh doanh chính của các đơn vị này.
ĐB Cư nêu nhóm DNNN hiện nay nắm giữ 60% nguồn vốn cho vay của các ngân hàng thương mại trong nước, chưa tính đến 70% vốn vay nước ngoài, nhưng chỉ đóng góp 40% cho GDP mà đa số là từ đặc quyền khai thác tài nguyên trong nước.
Nhiều ĐB cũng dẫn con số 45,5% các tập đoàn, TCty Nhà nước có tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu dưới 10% để nhấn mạnh những yếu kém, khuyết điểm của các DN này.
Vẫn tiếp cận từ những con số, ĐB Nguyễn Đăng Vang cho rằng cần khẳng định mặt tích cực chứ không nên nhìn nhận toàn những mặt chưa đạt được. Về hiệu quả sử dụng đồng vốn của tập đoàn, TCty, lợi nhuận sau thuế là 69.311 tỷ, tức là khoảng 4 tỷ USD, nếu chia cho nguồn vốn chủ sở hữu lợi nhuận là 14,27%, còn nếu cả nguồn vốn vay về để làm ăn là 5,58%. “Chúng tôi cho rằng lợi nhuận như thế là rất tốt”, ông Vang nói.
ĐB Nguyễn Đình Xuân lại cho là tỷ lệ đó chưa cao, chỉ tương đương lãi ngân hàng hoặc trượt giá hàng năm, chỉ cần đem tiền đến gửi ngân hàng cũng đã có số tiền đó? Theo ĐB Xuân, trong kinh tế thị trường đồng vốn không tự sinh ra và không tự mất đi, nó chỉ chuyển đổi từ Cty này sang Cty khác, từ “túi” này sang “túi” khác. Nhưng chưa có báo cáo nào làm rõ việc bao nhiêu số vốn mất đi của các TCty, tập đoàn này đi đâu?
ĐB Trần Du Lịch đề nghị phải có luật kinh doanh về vốn. Vì hiện nay nhân dân giao Chính phủ nắm một số vốn chủ sở hữu hơn 30 tỷ USD, chưa kể 365 nghìn ha mặt bằng đất đai đang kinh doanh. “Luật này chế định Nhà nước với tư cách là nhà đầu tư, chứ không phải Nhà nước với tư cách Nhà nước. Nhà nước với tư cách là người cầm 30 tỷ USD đi đầu tư thì cần một đạo luật, nước nào cũng làm như vậy cả, chúng ta phải làm việc này càng sớm càng tốt”, ĐB Lịch nhấn mạnh.
Đại biểu Lịch cũng cho rằng, vấn đề quản lý tập đoàn cực kỳ khó khăn, anh làm Bộ trưởng giỏi, nhưng không thể làm Chủ tịch một tập đoàn được. “Bao nhiêu tập đoàn là tùy thuộc năng lực chuẩn bị nhân sự của chúng ta và những người thực sự có năng lực, đây là nguồn cực khó, phải đào tạo, phải chuẩn bị chứ không thể đảo tới đảo lui như hiện nay” - ông Lịch phát biểu. ĐB Nguyễn Ngọc Đào đề nghị phải rà soát lại toàn bộ từng người đứng đầu các tập đoàn, TCty. “Cần phân định rõ trách nhiệm để tránh tình trạng mập mờ người đứng đầu vừa là nhà chính trị, vừa làm kinh doanh, hoặc vừa là nhà chính trị vừa là nhà thương mại vừa là nhà xã hội” - ông Đào nói.
Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của QH Hà Văn Hiền:
Cần xem lại chiến lược đầu tư cho Tập đoàn, TCty
Trước những bức xúc của các ĐBQH về hiệu quả hoạt động thấp của các tập đoàn, TCty Nhà nước, QH đã dành hẳn một ngày thảo luận về vấn đề này. Phải chăng, vấn đề quá ưu ái cho các tập đoàn trong khi một số lĩnh vực khác, như nông nghiệp nông thôn lại chưa được đầu tư xứng đáng đã không thể chấp nhận được nữa, thưa ông?
Nhiều ý kiến của ĐBQH cho rằng không nên tiếp tục rót vốn cho các tập đoàn, TCty Nhà nước hoạt động kém hiệu quả nữa. Cần phải xem xét lại chiến lược đầu tư của một số tập đoàn, TCty một cách thấu đáo. Đối với các dự án có hiệu quả thì tiếp tục đầu tư. Kém thì nên dừng lại.
Tôi chưa có điều kiện xem xét cụ thể hoạt động kinh doanh của từng tập đoàn, TCty. Nhưng về tổng thể, phần lớn là nguồn vốn vay của các tập đoàn, TCty trong thời gian vừa qua là đầu tư cho mục tiêu trung và dài hạn. Vì vậy, cần phải xem xét lại chiến lược đầu tư có đúng với nhu cầu phát triển của DN, của nền kinh tế hay không.
Việc đầu tư ra ngoài ngành đạt hiệu quả thấp trong một thời gian dài mà trách nhiệm này dường như đã bị bỏ qua?
Trước đây chưa có văn bản nào quy định về điều kiện DNNN đầu tư ra ngoài ngành, dẫn tới 47 tập đoàn, TCty đầu tư ra ngoài ngành với khối lượng tiền lớn. Điều đáng nói là, phần lớn các khoản đầu tư này hiệu quả thấp hơn nhiều so với lĩnh vực chính mà họ hoạt động. Chính vì vậy trong thời gian tới cần phải có quy định cụ thể về điều kiện và trách nhiệm đối với việc đầu tư ra ngoài ngành của các tập đoàn, TCty Nhà nước.