Biển trinh nguyên

Xem tin gốc 

Tin Tức Online - 26 tháng trước 21 lượt xem

Bien trinh nguyen

Chiếc kim đồng hồ nhích sang năm mới chưa được bao lâu, tôi lao về phía biển như một chú dê đầy hoang tưởng. Đây là vùng biển quen thuộc, tôi coi như quê, bãi bồi, phù sa và gió đều khác thường. Thực tâm chẳng ham hố gì, ngay cả tắm, chỉ ưa vẻ trầm lắng bao la của nó.

Anh xe ôm bận chiếc áo Natô xem ra dữ tướng, nhưng chuyện lại lại rất có duyên:

Anh xuống đây vào lúc 0 giờ thì sẽ được nhìn thấy biển còn trinh! Thật đấy. Em chẳng xạo đâu!

Nghĩa là thế nào?

Chàng Natô vuốt bộ râu dê:

Nghĩa là cái đêm chuyển từ năm cũ sang năm mới, các lão ngư lành nghề nhìn mặt biển, thấy biển phủ một lớp màng mỏng như tấm lụa hồng. Có năm lụa màu đen, có năm không có. Dân ngư cứ nhìn theo các cụ mà tính để bày lễ sao cho hợp.

Tôi nghe lạ lẫm, không dám tỏ thái độ thế nào, đang đực ra một cục, thì chàng kia lại hỏi:

Anh biết đêm rồi có duyên gì không?

Rồi đưa tay chỉ đánh soạt một cái về phía cuối bãi phi lao, người kéo xuống đông lắm kể:

Đêm qua có hai anh em ngư dân xã trên nửa đêm ra nhìn biển thấy có tấm lụa màu hồng, sướng quá, quên cả lễ lạt cúng bái, cưỡi thuyền thốc ra. Ban đầu trúng quả, lưới nặng cá tôm. Bỗng một trận gió lật úp thuyền, nhốt cả người em trong đó. Người em chết để lại cô vợ xinh nhất làng Giáo và một đứa con gái kháu khỉnh. Sáng ra, xác dạt vào cuối bãi kia. Chuyện đầu năm, ai bảo hiền lành vô sự, mới nghe đã rợn cả người. Biển lúc này rất lạ, im lặng như nín thở. Từng mảng từng mảng lụa hồng như lặn vào phù sa. Chim bay từng đôi. Sóng đổi hướng chéo, từ Đông sang Bắc, không thẳng hướng bờ như ngày thường. Biển có màu vàng trắng, pha màu son dầu dãi là phù sa, vừa có nét cung cấm, vừa chân quê. Chàng Natô cởi soạt chiếc áo chiến đầy túi, dày như vải bạt.

- Ông anh sành điệu, đến ngắm biển vào giờ này. Hay chán đời, chán vợ con, đi ngẫm thế thái nhân tình đấy?

Bật cười vì câu hỏi chân tình sấn sổ, khó đoán tầm văn hóa. Hỏi lại:

- Theo cậu tớ thuộc loại nào?

Đáp luôn:

- Ông anh có cả ba, đúng không nào?

Giữa thời khắc biển trời trinh nguyên, chỉ mấy câu đó cũng đủ là người tri âm, đưa mắt nhìn anh ta ấm áp hơn. Anh ta nhận ngay được tín hiệu thân thiện đó. Bèn cởi mở:

- Nếu đi để ngẫm xem nhân tình thế thái, thì ông anh chỉ cần hỏi cánh xe ôm ngựa chiến chúng em cũng khối chuyện. Cuộc đời này sung sướng giàu sang thì chẳng có gì lạ lắm chứ "bề khổ trầm luân" thì không bao giờ hiểu hết đâu anh ơi!

Anh ta gọi, như người lên đồng, rồi nhìn ra biển, nói thao thao.

- Quãng 10 ngày trước tết, em chở 10 cô gái về đây thì cả 10 cô đều có cảnh ngộ đặc biệt. Có cô bị tan nát hạnh phúc gia đình, bỏ đi. Có cô gia đình đến tết mà cha mẹ không đủ cơm gạo cầm hơi, cũng bỏ đi. Có cô thương lắm, xuống đây kiếm việc làm, làm gì cũng được, cốt đủ tiền để nộp viện phí cho mẹ đang mổ xẻ trong viện. Mà ông anh có tin không, số này lại nhiều cơ chứ. Họ nói thật, kể thật, không lừa cánh xe ôm "trời đánh" như chúng em đâu!

Anh Natô cúi xuống, thoáng buồn, khác với vẻ táo tợn lúc nãy. Chắc anh ta đang nhớ một cô em cụ thể nào đó. Rồi đưa cặp mắt sắc liếc cái đồng hồ máu đỉa to bự trên tay, hỏi:

- Bây giờ em biết ông anh cần gì rồi? Dĩ thực vi tiên đúng không?

- Cậu tài quá! Sao cậu biết? Đúng là tớ đang muốn tìm hạt cơm nóng.

Rồi cười phá lên trước biển.

- Biết ngay mà. Năm nay cũng có người như anh xuống đây. Họ chuyện trò xa xôi đồng cảm lắm, nhưng cuối cùng bao giờ cũng cần hạt cơm nóng vào bụng.

Chiếc xe máy lao tắp lự về cuối bãi đường. Nhìn lại vệt khói vẫn ngoằn ngoèo như không tan được trước biển. Anh Natô dừng xe, ghếch chân gọi:

- Chị Tâm... Tấm ơi! Khách quý này!

Tôi đã xuống vùng biển này vài lần, tạm gọi là quen thông thổ, chứ nếu không thì sẽ lạnh cả người khi anh chàng Natô thả xuống đó rồi vút xe đi. Có lẽ đó là cách biển lộ tình cảm của cánh xe ôm lãng tử, chiều khách chứ tuyệt nhiên không quấy rầy khách để cho khách tự do tuyệt đối. Cửa hàng lợp là nhỏ, lặng lẽ trong bóng dương. Hai cánh cửa mảnh mai mở ra rất ý tứ, vừa như mời, vừa như khép. Mùi hương trầm phải ra như chốn tu, lại có tiếng mõ cầu kinh. Tiếng mõ chìm trong sóng gió biển cả, lắc thắc như những quả cây dương rơi xuống.

Không có người ra, để tỏ mình là người ngay mục đích cũng đơn giản "kiếm hạt cơm nóng" như đã nói với anh xe ôm, tôi cứ thẳng nhà bước vào. Qua cửa chính, tôi nhìn thấy một bức tượng Đức Mẹ khá lớn. Tôi linh cảm đây không phải là bài trí đơn sơ ở các quán cơm cửa hiệu, mặt nghiêm lại, đầy vẻ tôn giáo. Chắc người trong nhà linh tính, ngừng tiếng mõ, bước ra. Người đàn bà còn trẻ có gương mặt hiền hậu, mái tóc cắt ngắn che nửa vầng trán có nét thị thành hiện đại. Tôi bối rối thực sự.

- Xin lỗi, làm ngưng giờ tụng kinh của em!

Người đàn bà đang làm lễ, má ửng đỏ, lấy tay vén mái tóc, để lộ đôi mắt cười:

- Không sao. Em tụng theo lòng mình thôi mà. Cả hai biểu lộ vẻ thánh thiện, dễ tin nhau, tôi nhìn kỹ người đàn bà khó đoán tuổi. Mái tóc đen màu nhưng như ngược với đôi nét chân chim của đôi mắt sáng rất đẹp. Vầng trán lộ vẻ nghiêm, nhưng cái miệng và sống mũi khi nói cười thì nhíu lại nét tinh nghịch như tuổi học sinh. Căn nhà cấu trúc cũng lạ, gian nhỏ ngoài nhìn ra biển là nơi của khách ăn, ở giữa là bệ xi măng xây cao có cửa nhỏ như ở nhà thờ, tượng Đức Mẹ đặt ở đó. Bên trái có một phòng nhỏ xíu, mùi hương phả ra, gọi là bàn thờ.

Người đàn bà ý tứ khép cửa bàn thờ, nói liền một lúc hai ý khác nhau để cho khách hiểu:

- Bố mẹ em ở thị xã, cụ ông bên Giáo, cụ bà đi Chùa. Vâng, cả hai. Anh nghỉ chân rồi ăn cơm nóng, may hôm nay em thổi cơm sớm để cháu lên thị xã thăm ông bà. Tôi nhìn tấm ảnh màu phóng lớn hai mẹ con, người mẹ trẻ mặc áo vào nhà chùa và cậu con trai to lớn đẹp đẽ, đặt dưới chân tượng Đức Mẹ.

- Cháu đấy hả? Đẹp trai quá!

Người đàn bà thốt lên lạ lẫm:

- Mô Phật! A men Chúa tôi!...

Người đàn bà tinh ý biện hai câu niệm ấy thành một ý vui chân thành. Chứng tỏ trái tim thánh thiện còn trẻ lắm. Tôi cảm thấy mến thực lòng.

Khi có "hạt cơm nóng" vào bụng như tiên đoán của anh lại xe ôm Natô, tôi sung sướng khi người đàn và nhìn tôi và bảo: "Anh lạ chiếc áo nhà chùa và cậu con trai của em, phải không? Xế chiều rồi, anh ăn cơm kẻo đói, rồi có dịp em sẽ kể cho anh nghe".

Chiều biển xuống rất nhanh, kéo theo hoàng hôn ập đến. Tôi cảm thấy ngần ngại như người đi lỡ đường. Người đàn bà hiểu ý: "Anh đừng ngại, có chú Hải hồi trưa đưa anh đến là em tin rồi. Chú ấy là người tốt, đứng đắn, biết thương người. Anh đừng ngại nhé!".

Tôi xếp lại túi hành lý, đặt vội tấm Thẻ Nhà văn vào gần hai mẹ con dưới chân tượng Đức Mẹ để làm tin. Người đàn bà như em gái hồn nhiên đi qua: "Anh là nhà văn à?". Rồi nói: "Như vậy là được rồi. Tối, nếu anh không chê nhà em hàng quán thì kê tạm phòng ngoài cho anh nghỉ. Mẹ con em trải chiếu ngủ ở bàn thờ. Mà chưa chắc cháu đã về kịp đêm nay". Biển đêm ấy chao đảo lạ lùng. Người ta bảo bước sang năm nay đêm ở biển rất sáng, cao trời và lân tinh. Người đàn bà lấy tấm gỗ dài kê lên hai bàn ăn, phủ tấm chăn mỏng, làm chỗ cho tôi nằm. Cô nằm trong bàn thờ. Mùi trầm hương thoang thoảng, như câu chuyện thầm thì theo nhịp sóng biển:

- Anh có tin có đàn bà và con gái chỉ một lần sa vào chuyện ấy rồi từ đó xa lánh đàn ông, chẳng thiết tha gì nữa không? Anh tin hay không là tùy, còn đó là chuyện đời em.

Em có cậu bạn học cấp 3 bên Lương, học giỏi toán, lại đẹp như diễn viên điện ảnh ấy. Cậu bạn mê em từ năm lớp 8 mà cậu ta đã gục vào vai em nức nở:

- Anh chẳng thiết gì trên đời nữa. Chỉ ước được gần em.

Em chỉnh cho một chập, bảo rằng con trai như vậy là kẻ yếu hèn, không có chí nam nhi tung hoành ngang dọc, một đời chỉ núp bóng đàn bà, nhưng rồi cậu ta cứ theo mãi cho đến những năm gần cuối cấp. Khổ nỗi là cậu ta bên Lương, bố mẹ em lại là cán bộ nhà nước, vô thần. Em thì vừa đi Chúa, vừa Phật. Ngày cuối cùng chúng em đi biển, đúng bãi biển này đây. Hôm ấy biển ập đến nhanh như hôm nay, chúng em không về được. Thế là lần đầu tiên em trả giá cho trái tim trong trắng. Giọt máu đỏ rơi xuống cát!

Mẹ em lo lắng đi hỏi khắp các thầy gần xa. Họ đều bảo thế là đời em cũng gắn liền tình duyên với người ấy, cả đau khổ, hạnh phúc. Quả vậy, chúng em lấy nhau, chẳng bao lâu sinh cậu con trai kháu khỉnh.

Chúng em không học lên, ở nhà đi làm. Chồng em hồi nhỏ học giỏi toán, lý, hóa, lại có nghề mạ vàng bạc gia truyền từ mấy đời. Chẳng bao lâu anh ta có tay nghề rất giỏi.

Rồi cũng như số kiếp, như cái câu anh ta thề thốt từ ngày còn là học sinh trong trắng. Anh ta chỉ cần có em, chẳng thiết tha phấn đấu gì cả. Bạn bè có đứa tốt nói với em đó là cái căn bản của người chồng, không nên đòi hỏi cao. Có đứa xấu bụng, bảo đàn ông như vậy không ra đàn ông, gà ăn quẩn cối xay, mê mẩn nhan sắc đàn bà, đến lúc đàn bà phai sắc thì tình nhạt, rượu phai. Em không vững vàng, chảo đảo, tỏ ra lạnh nhạt, gia đình làm ăn xuống dần.

Nguy hại nhất là sau cái lần đầu tiên trên bãi biển, em dính bầu và sinh con sự khao khát đàn ông như lãnh cảm dần. Em hỏi, mẹ em bảo: "Mẹ ngày xưa cũng vậy. Cái chính là lấy lòng thương người mà nhen nhóm chữ tình con ạ". Em hỏi cô bạn học ngày xưa giờ là bác sĩ bệnh viện tỉnh. Bạn ấy bảo: "Có căn bệnh ấy, nhưng tớ chắc không tới vào cô gái xinh đẹp như cậu đâu!".

Rồi đùng một cái, sự lãnh cảm trả giá, người chồng đang yêu em rất mực, bỗng buồn chán, bỏ đi dông dài. Trầm uất đến phát bệnh hoang tưởng, có lần em lấy hết tình thương khuyên bảo, anh ta gầm lên, nói như kẻ tâm thần:

- Tất cả vì anh, lỗi ở anh. Em thì đẹp quá, anh yêu em quá. Đêm ấy anh thấy sóng dựng lên lưỡi kiếm khổng lồ ngoài biển, chém đi tất cả! Mẹ em tìm đến những chốn thiêng, được lời khuyên:

- Đau khổ từ nơi đâu thì trở lại nơi ấy mà tìm đường sống.

Em đưa con trai xuống vùng cửa biển này từ đó. Nay cháu đã lên đại học năm thứ nhất rồi! Em mở cửa hàng thổi cơm, nắm cơm cho người đi biển, ai cũng thương. Khi dựng nhà xong, bố em thương con gái, đem xuống cho cả tượng Đức Mẹ và bảo: " Người sẽ che chở cho!". Mẹ em thì cho cái mõ gỗ từ thuở bà còn con gái. Em thức dậy nửa đêm, gõ mấy hồi mõ theo nhịp sóng biển, rồi đỏ bếp cho ảnh lửa hắt vào bức tượng. Các ngư dân nghe tiếng mõ và thấy em rơm rớm nước mắt khi nhìn vào tượng thì bảo: "Cô cứ ở đây mà cơm nước. Chẳng ai nỡ hại cô đâu!".

Kỳ lạ, khi mẹ con em yên ổn dưới này thì trên phố người chồng cũ của em "tỉnh", trở lại làm nghề rất giỏi, vào loại giàu có nhất vùng. Có lần anh ta đi cả một chiếc ô tô con xuống đây và chỉ hỏi mỗi một câu:

- Em vẫn lãnh cảm à!

Em chỉ kịp nói câu "vâng" mơ hồ. Tháng sau, anh ta lấy vợ, nhưng không có con.

Em bảo con:

- Phận bố mẹ là vậy. Con gắng học cho giỏi để bù lại cho khổ đau của bố mẹ!

Mới đây, anh ta cho người chuyển xuống một trăm triệu đồng để cho cháu có tiền đi du học. Con em nhận tiền và bảo: "Con thương bố, muốn đi du học để sau này làm việc giỏi hơn bố. Nhưng con thương mẹ lắm, chỉ muốn ở nhà quẩn quanh bên mẹ thôi".

Em hoảng hốt:

- Chết, con đừng lặp lại thói quẩn quanh bên bố mẹ như bố xưa.

Con em "Vâng" rồi lấy tay lau nước mắt.

Đêm sau, xứ biển Châu Triều này có hiện tượng rất lạ. Hoàng hôn ập xuống nhanh hơn ngày thường rất nhiều. Các cụ bảo đêm có những sáu canh.

Mùi trầm suốt đêm tỏa ra từ bàn thờ. Người đán bà thỉnh thoảng điểm một nhịp gõ và hỏi: "Anh ngủ say rồi ạ?". Thú thực tôi ngủ sâu kỳ lạ, thỉnh thoảng biết có người vì mình mà kể chuyện, lại vục lên như một chú cá voi thở phì phò ngoài biển cả. Sáng ra, chắc là sang canh thứ sáu, người đàn bà vén cửa bàn thờ lay tôi dậy:

- Đấy, anh thấy đấy. Đời em từ lâu chỉ thèm chút hơi thánh thiện như đêm rồi của anh! Anh xe ôm Natô gọi ngoài cửa:

- Chị Tâm... Tấm ơi! bảo anh gì ra đây mà xem biển

Tôi cảm động vì nhiều điều, lao ra và thấy biển phủ đầy những dải lụa hồng. Đấy là chiếc màng lúc biển trinh nguyên.

Tôi hỏi:

- Sao em vừa Tâm, lại vừa là Tấm?

- Anh đoán xem. Đời em ấy mà!

Gió khởi lên. Những dải lụa trên biển chuyển nhanh sang màu hồng trắng.

Theo Phan Cung Việt

Tin đọc nhiều

Chưa có bình luận nào

Hãy đăng ký hoặc đăng nhập để tham gia bình luận.

Các bài mới

Về đầu trang